đặt vấn đề, sự thiết yếu của đề tài, mục tiêu, nội dung của đề tài và phƣơng pháp thực hiện đề tài. - Chương 2: trình bày các cơ sở lý thuyết của ĐKLĐ, các yếu tố MTLĐ bao gồm: khái niệm, ảnh hƣởng và chi tiết về phƣơng pháp chính dùng để đánh giá. - Chương 3: tổng quan về thực trạng sản xuất bao bì Giấy tại Việt Nam, sản phẩm cũng nhƣ quy trình công nghệ, nguyên liệu để sản xuất bao bì giấy của Công ty Đại Toàn Phát. - Chương 4: đánh giá ĐKLĐ tại Công ty Đại Toàn Phát và các biện pháp khắc phục.
Cuối cùng, phần kết luận và khuyến nghị sẽ đƣợc tóm tắt ở phần cuối của Luận văn. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC 2. CÁC YẾU TỐ MÔI TRƢỜNG ĐẶC TRƢNG TRONG CƠ SỞ SẢN XUẤT BAO BÌ GIẤY: 2. Vi khí hậu nơi sản xuất: Định nghĩa và phân loại Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp gồm các yếu tố: Nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và vận tốc chuyển động của không khí.
Điều kiện vi khí hậu trong sản xuất phụ thuộc vào tính chất của quá trình công nghệ và điều kiện khí hậu của từng địa phƣơng. Theo tính chất tỏa nhiệt của quá trình sản xuất ngƣời ta chia ra làm các loại vi khí hậu nhƣ sau: - Vi khí hậu ổn định: Nhiệt tỏa ra khoảng 20 Kcal/m3 không khí 1 giờ(xƣởng cơ khí, xƣởng dệt. - Vi khí hậu nóng: Nhiệt tỏa ra nhiều hơn 20 Kcal/ m3 không khí 1 giờ(xƣởng đúc, rèn…). - Vi khí hậu lạnh: Nhiệt tỏa ra ít hơn 20 Kcal/ m3 không khí 1 giờ( xƣởng lên men rƣợu, bia, nhà ƣớp lạnh, chế biến thực phẩm…) [6].
Nhiệt độ: Là yếu tố quan trọng trong sản xuất, phụ thuộc vào các hiện tƣợng phát nhiệt trong sản xuất nhƣ: lò phát nhiệt, ngọn lửa, bề mặt máy móc bị nóng, năng lƣợng điện, cơ biến thành nhiệt, phản ứng hóa học sinh nhiệt, bức xạ nhiệt của mặt trời, nhiệt do ngƣời sinh ra. Chính các nguồn nhiệt này đã làm cho nhiệt độ của không khí tăng lên cao, có khi lên tới 50-600C. QCVN 26:2016/BYT quy định nhiệt độ tối đa cho phép ở nơi làm việc của công nhân đối với lao động trung bình về mùa hè là từ 18- 320C và không đƣợc vƣợt quá nhiệt độ ở bên ngoài là 50C. Độ ẩm: Là khối lƣợng hơi nƣớc có trong 1 đơn vị thể tích không khí (gam/m3), hoặc bằng sức trƣng hơi nƣớc tính ra bằng mm cột thủy ngân.
8 Có ba loại độ ẩm: độ ẩm tuyệt đối, độ ẩm cực đại và độ ẩm tƣơng đối. - Độ ẩm tuyệt đối (Ha) là lƣợng hơi nƣớc trong 1m3 không khí tại một thời điểm nhiệt độ nhất định (g/m3). - Độ ẩm cực đại (Hm) là lƣợng hơi nƣớc tối đa bão hòa trong 1m3 không khí tại một nhiệt độ nhất định. - Độ ẩm tương đối (Hr) là tỉ lệ phần trăm giữa độ ẩm tƣơng đối và độ ẩm tuyệt đối (%) Trong quan trắc môi trƣờng lao động ngƣời ta thƣờng sử dụng Độ ẩm tƣơng đối.
QCVN 26:2016/BYT quy định độ ẩm tƣơng đối nơi lao động phải nằm trong khoảng từ 40-80 %. Bức xạ nhiệt: Là những hạt năng lƣợng truyền trong không khí dƣới dạng sóng điện từ bao gồm: tia hồng ngoại, tia sáng thƣờng và tia tử ngoại, bức xạ nhiệt của các vật thể đen đƣợc nung nóng gây ra. Tiêu chuẩn vệ sinh cho phép 1kcal/m2. Vận tốc chuyển động không khí: Vận tốc chuyển động không khí không đƣợc vƣợt 1.
5 m/s có thể gây kích thích bất lợi cho cơ thể. Ảnh hƣởng của vi khí hậu đối với cơ thể ngƣời. Ảnh hƣởng của vi khí hậu nóng : Làm việc trong điều kiện vi khí hậu nóng có thể xảy ra các biến đổi sinh lý, bệnh lý. - Nhiệt độ da: Đặc biệt là vùng da trán, rất nhạy cảm đối với các biến đổi nhiệt bên ngoài gây ra cảm giác nhiệt: rất lạnh, lạnh, mát và dễ chịu.
- Nhiệt than (ở dƣới lƣỡi): Nếu tăng thêm 0, 3-1oC cơ thể có sự tích nhiệt. Nhiệt than ở 38, 5oC đƣợc coi là nhiệt độ báo động, có sự nguy hiểm sinh lý nhƣ say nóng. - Chuyển hóa nƣớc: Làm việc ở nhiệt độ cao nên cơ thể mất nhiều nƣớc do thải nhiệt gây ảnh hƣởng tới tim, thận, gan, hệ tiêu hóa, hệ thần kinh. Trong điều kiện vi khí hậu nóng các bệnh thƣờng gặp tăng lên gấp 2 lần so với bình thƣờng.
Rối loạn bệnh lý do khí hậu nóng thƣờng gặp là chứng co giật, gây ra chóng mặt, đau đầu, buồn nôn và đau thắt lung [6]. Ảnh hƣởng của vi khí hậu lạnh: - Lạnh làm cho cơ thể mất nhiều nhiêt, nhịp tim nhịp thở giảm và tiêu thụ oxi tăng lên. - Lạnh làm cho các cơ co lại gây lên hiện tƣợng nổi da gà, các mạch máu co thắt sinh cảm giác tê, cóng chân tay, vận động khó khăn. - Trong điều kiện vi khí hậu lạnh gây ra các bệnh thƣờng gặp là: Viêm dây thần kinh, viêm khớp, viêm phế quản và một số bệnh mãn tính khác do máu lƣu thông kém và đề kháng cơ thể giảm [6].
Ảnh hƣởng của bức xạ nhiệt. Tia hồng ngoại: -Khi làm việc dƣới nóng có thể gây chứng say nắng do các tia hồng ngoại có thể xuyên qua hộp sọ nung nóng màng não và các tổ chức khác. -Những tia có bức song ngắn khoảng 3μm gây ra bỏng da mạnh nhất. -Tia hồng ngoại còn gây giảm thị lực, đục nhân mắt.
Tia tử ngoại:Gây ra các bệnh về mắt, da(bỏng, ung thƣ…) Tia lase: Gây bỏng da, võng mạc, ngoài ra còn gây tác dụng điện hóa, hóa học, cơ học…[6] 2. Nồng độ bụi nơi sản xuất: Bụi là tập hợp nhiều phần tửu rắn có kích thƣớc nhỏ, lở lửng trong không khí. Theo cách gọi của hóa học keo: bụi là một hệ thống phân tán mà môi trƣờng phân tán là khoong khí, chất phân tán là những hạt rắn. Nói cách khác, bụi là một dạng khí dung có các hạt phân tán rắn [7].
Chỉ tiêu thƣờng dùng để đánh giá ô nhiễm bui trong không khí là nồng đó bụi (mg/m3), mật độ bụi (hạt/cm3), kích thƣớc các hạt bụi, các tính chất lý hóa của bụi, … Ảnh hƣởng của bụi đến cơ thể: - Ở đƣờng hô hấp, bụi tiếp xúc với mũi, phế quản gây sung huyết, bài tiết các chất nhờn và gây phù thũng. Tiếp xúc thời gian dài có thể làm khả năng lọc bụi của mũi giảm nhiều, gây viêm mũi xơ teo, viêm khí quản, phế quản cấp tính và mãn tĩnh. 10 - Ở phổi, gây bệnh bụi phổi. Theo tổ chức lao động thế giới, bênh bụi phổi đƣợc định nghĩa là:” Sự tích lũy bụi trong phổi và những phản ứng tổ chức chống lại sự có mặt của chúng”.
Đây là một bệnh mãn tính có tính chất nghề nghiệp và có trong nhiều ngành sản xuất. - Đối với mắt, bụi có thể gây viêm kết mạc, xƣớc giác mạc,. ảnh hƣởng đến thị lực. - Đối với da, bụi làm bít các tuyến nhờn, làm da bị khô, mất độ mềm mại, gây kích thích, dị ứng, nặng có thể da bị viêm loét [7].
Yếu tố hóa học: Yếu tố này phát sinh do NLĐ tiếp xúc trực tiếp với hóa chất, đặc biệt là các dung môi hữu cơ dễ bay hơi trong quá trình sản xuất. Đối với ngành công nghiệp bao bì giấy, NLĐ chủ yếu phơi nhiễm với dung môi pha mực in và keo trong công đoạn dán keo, in ấn. Các nghiên cứu cho thấy nồng độ của VOCs trong nhà máy in cao gấp ngoài trời nhiều lần (lên đến 10 lần). và ƣớc tính có hơn 300 loại VOCs khác nhau đƣợc tìm thấy trong không khí tại xƣởng in.
Chiểm lƣợng đáng là các hợp chất bay hơi nhƣ toluene, ethylbenzene, xylenes, cồn, … [8]. Tùy theo loại hóa chất và nồng độ mà có thể gây hậu quả khác nhau trên cơ thể: gây kích ứng niêm mạc và đƣờng hô hấp, gây ngạt, gây hôn mê và có thể gây tổn thƣơng các cơ quan nội tạng. Ngoài ra, còn có những loại háo chất gây tác hại đặc biệt nhƣ: gây ung thƣ, gây quái thai, gây đột biến gen… Dựa theo tác động của hóa chất đối với cơ thể, ta có thể chia thành bốn dạng chính [9] - Các chất kích ứng: gây tác động ăn mòn, phỏng rộp, gây viêm trên các bề mặt niêm mạc. Một số chất gây kích ứng đƣờng hô hấp trên nhƣ: aldehit, bụi, amoniac,.
; các chất gây tác động đƣờng hô hấp và các mô phổi: các loại halogen,. - Các chất gây ngạt: làm rối loạn sự oxi hóa trong các tế bào của các mô gây ra hiện tƣợng ngạt thở, ví dụ: CO, He, Hydro, CH4,. - Các chất gây mê: tác động chính là gây mê, không có hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ: acetylen và các đồng đẳng,.
- Các chất độc toàn thân: gây hại cho một hoặc nhiều cơ quan nội tạng. Phần lớn loại này là các hydrocarbon có gốc clo, bên cạnh đó là benzen, các phenol,. Ồn trong sản xuất: Không có định nghĩa về mặt vật lý của tiếng ổn mà chỉ có định nghĩa chung về âm thanh, là sự lan truyền dao động vật chất trong các môi trƣờng đàn hội (rắn, lỏng, khí). Âm thanh mà con ngƣời nghe đƣợc là những sóng âm có tần số từ 16-20000 Hz, bình thƣờng tần số nói chuyện vào khoảng 500-2000 Hz.
Âm lực quá thấp sẽ không nghe thấy, âm lực quá cao sẽ gây tổn thƣơng đến tai [6]. Để đánh giá khả năng kích thích của âm đối với cơ quan thính giác của con ngƣời, ngƣời ta sử dụng đơn vị đo mức áp suất âm thanh, ký hiệu là L, đơn vị là dB, dBA Ảnh hƣởng của tiếng ồn đến cơ thể: Điếc nghề nghiệp thƣờng diễn biến chậm, kéo dài hàng năm tới hàng chục năm, thƣờng khó nhận biết và ngày càng nặng hơn. Có thể hệ thống diễn biến thành ba giai đoạn [10]: - Giại đoạn thích ứng: xuất hiện tuần đau hay tháng đầu mới tiếp xúc môi trƣờng ồn, thƣờng thấy các triệu chứng: cảm giác khó chịu, ù tai, nghe kém bình thƣờng vào cuối và sau giờ lao động. - Giai đoạn tiềm tàng: kéo dài nhiều năm hoặc lâu hơn.
Triệu chứng là nghe kém, nói chuyện to hơn bình thƣờng. - Giai đoạn rõ rệt: nghe rất kém. Khi giao tiếp đã thấy rõ sự khó khăn.