ĐẶT VẤN ĐỀ Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế, xã hội nhờ thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Tuy vậy, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức về an toàn và vệ sinh lao động. Cùng với quá trình phát triển công nghiệp các thiết bị công suất lớn, năng suất cao được sử dụng nhiều hơn, tiếng ồn là một trong những loại hình gây ô nhiễm ngày càng phổ biến cho môi trường và trong sản xuất, đưa đến bệnh điếc nghề nghiệp (ĐNN) luôn đứng đầu về tỷ lệ người mắc bệnh nghề nghiệp (BNN)[4]. Theo nhận định của Hiệp hội chống tiếng ồn quốc tế số người lao động (NLĐ) làm việc trong các ngành nghề, cơ sở sản xuất có cường độ tiếng ồn cao, chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 1/4 đến 1/3 trong tổng số NLĐ[49].
Tại Việt Nam, theo số liệu báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế, tính đến cuối năm 2014 bệnh ĐNN do tiếng ồn là 4.274 chiếm 17,097% tổng số các trường hợp bị BNN[29]. Thời gian qua, công tác chăm sóc và nâng cao sức khỏe của NLĐ đã đạt được một số thành tựu nhất định. Sức khỏe NLĐ từng bước được nâng cao thông qua việc giám sát môi trường lao động (MTLĐ), giám sát sức khỏe, cải thiện điều kiện lao động và huấn luyện cho NLĐ để bảo vệ sức khỏe góp phần phòng chống các tác hại nghề nghiệp phát sinh trong quá trình lao động. Tuy nhiên chỉ với số lượng nhỏ cơ sở lao động thực hiện và thực hiện không đồng bộ, MTLĐ tại các cơ sở sản xuất vẫn còn ô nhiễm và nhận thức của người sử dụng lao động, NLĐ về an toàn vệ sinh lao động và phòng chống BNN còn hạn chế[1].
Việc phòng chống tác hại của tiếng ồn mặc dù ít tốn kém, có nhiều hiệu quả nhưng không đơn giản và trong nhiều trường hợp rất khó khăn, một phần do trình độ, kỹ năng quản lý người sử dụng lao động còn thấp[20], chưa thấy được những thiệt hại kinh tế do ô nhiễm MTLĐ trong doanh nghiệp phải gánh chịu như giảm sản lượng, tuyển dụng NLĐ mới, các chi phí cho y tế trong trường hợp bị tai nạn lao động, BNN, bồi thường thiệt hại cho NLĐ, làm mất đi uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp[11] và do NLĐ ít quan tâm đến những rủi ro có thể xảy ra trong lao động, đánh giá thấp hiệu quả bảo vệ của các phương tiện bảo vệ cá nhân, còn thiếu hiểu biết về an toàn lao động, 2 chưa quan tâm đúng mức đến sự an toàn cho chính mình khi làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm, nên chưa có nhu cầu về sử dụng các phương tiện an toàn, hoặc sử dụng một cách miễn cưỡng để đối phó với những qui định của cơ quan, pháp luật.[14], cần phải có sự nỗ lực trong thay đổi nhận thức, thái độ, thực hành của NLĐ và người sử dụng lao động cùng với sự tham gia tích cực của y tế cơ sở mới có thể phòng chống có hiệu quả các yếu tố nguy cơ và tác hại nghề nghiệp do tiếng ồn gây ra nói chung và phòng chống giảm thính lực nghề nghiệp nói riêng. Nhà máy Xi măng An Giang đóng trên địa bàn Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, là đơn vị sản xuất xi măng duy nhất trên địa bàn tỉnh và có đóng góp rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội trong tỉnh. Đặc thù sản xuất của Nhà máy dẫn đến vấn đề ô nhiễm tiếng ồn, bụi trong môi trường lao động (MTLĐ) ở mức cao. Theo số liệu báo cáo kết quả giám sát MTLĐ định kỳ từ năm 2011 – 2014 tần suất tiếng ồn vượt Tiêu chuẩn vệ sinh lao động (TCVSLĐ) cho phép luôn đứng đầu trong các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của NLĐ, mức độ ồn trong phân xưởng sản xuất dao động từ 81 – 104 dBA[6],[7],[8],[9].
Để trả lời các câu hỏi: Mức độ ô nhiễm tiếng ồn tại tất cả vị trí làm việc của người lao động vượt TCVSLĐ cho phép như thế nào? Ý thức của NLĐ trong công tác phòng chống tác hại do tiếng ồn gây ra ra sao? Khuyến nghị nào là phù hợp thực tế để hỗ trợ Nhà máy giảm thiểu các tác hại của tiếng ồn. Nghiên cứu đề tài “Thực trạng phơi nhiễm tiếng ồn nơi làm việc và kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống điếc nghề nghiệp của người lao động tại Nhà máy Xi măng An Giang năm 2016” được thiết kế để tiến hành tại Nhà máy Xi măng An Giang trong năm 2016. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng phơi nhiễm tiếng ồn nơi làm việc của người lao động tại Nhà máy Xi măng An Giang năm 2016.
Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan của người lao động trong việc phòng chống điếc nghề nghiệp tại Nhà máy Xi măng An Giang năm 2016. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số vấn đề cơ bản về tiếng ồn 1. Những khái niệm về âm thanh và tiếng ồn 1.
Định nghĩa tiếng ồn Theo Công ước số 148 về bảo vệ NLĐ phòng chống các rủi ro nghề nghiệp do ô nhiễm không khí, ồn và rung ở nơi làm việc: Ồn là chỉ mọi âm thanh có thể dẫn đến một sự tổn hại thính giác, hoặc gây tác hại đối với sức khỏe hoặc nguy hiểm về nhiều mặt khác[45]. Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh có cường độ và tần số khác nhau, được sắp xếp một cách ngẫu nhiên, gây cảm giác khó chịu cho người nghe, cản trở con người làm việc và nghỉ ngơi hay là những âm thanh mà người ta không mong muốn[12],[27],[41],[46]. Các đặc tính của âm thanh Âm thanh là những dao động cơ học được lan truyền dưới hình thức sóng trong môi trường đàn hồi như khí, lỏng, rắn và được cơ quan cảm thụ thính giác hấp thu[22],[27],[46],[4]. Tần số: Mỗi âm thanh được đặc trưng bởi một tần số dao động nhất định, đủ trong 1 giây.
Đơn vị đo là herts (Hz). 1Hz là một dao động đầy đủ trong 1 giây. Thính giác người cảm thụ được tần số âm thanh từ 16 – 20. Đặc điểm sinh lý của cơ quan thính giác là phản ứng với sự tương đối của các tần số âm.
Khi tần số âm thanh tăng lên hai lần thì độ cao của âm tăng lên 1 ton hay là 1 octave. Trong VSLĐ thường đo âm thanh ở 8 octave là 63, 125, 250, 500, 1000, 2000, 4000, 8000 Hz. Biên độ: Mỗi âm thanh đều có một năng lượng âm nhất định, năng lượng này phụ thuộc vào biên độ dao động của sóng trên đường truyền âm. Về mặt vật lý thì cường độ âm thanh có đơn vị đo là erg/cm2sec hoặc w/cm2.
Tai người cảm thụ với âm thanh từ 10-9 - 104 w/cm2, vậy ngưỡng nghe của người tương đương với 10-9 w/cm2 và ngưỡng đau tương đương với 104 w/cm2. 5 Về mặt tiếp nhận cảm giác âm thanh: Cường độ tiếng ồn được đo bằng decibel (dB) và tỷ lệ thuận với logarit thập phân của năng lượng âm. I L 10 lg dB I0 Trong đó: + L là cường độ âm thanh + I là năng lượng của âm thanh (w/cm2) + I0 là năng lượng của âm thanh ở ngưỡng nghe (10-9 w/cm2) Như vậy mức cảm thụ về thính giác phụ thuộc vào hai yếu tố đó là tần số và biên độ của dao động âm, vậy đơn vị đo lường chủ quan cảm giác âm thanh là tổng hợp cả hai yếu tố trên gọi là phone (đơn vị độ vang): 1 phone tương đương với 1 decibel ở 1000 Hz. Âm thanh ở 1000 Hz là âm thanh chuẩn về độ vang, cường độ âm thanh tại đây sẽ được đo bằng dBA[22],[27].
Tại tần số dBA giúp đánh giá sơ bộ tiếng ồn về phương diện vệ sinh so với tiêu chuẩn tối đa cho phép[27]. Phân loại tiếng ồn Tiếng ồn là một trong số những loại hình gây ô nhiễm ngày càng phổ biến cho môi trường và trong sản xuất. Tiếng ồn rất đa dạng và có nhiều nguồn gốc khác nhau. Có nhiều cách phân loại nguồn ồn như: 1.
Theo tính chất vật lý Tiếng ồn ổn định: Những tiếng ồn có mức ồn theo thời gian thay đổi không quá 5 dB. Tiếng ồn không ổn định: Có mức thay đổi theo thời gian trên 5 dB. Loại tiếng ồn này bao gồm tiếng ồn dao động, tức mức âm thanh thay đổi không ngừng theo thời gian, kế đến là tiếng ồn ngắt quãng, âm thanh không liên tục, có những lúc ngắt quãng từ 1 giây trở lên và cuối cùng là tiếng ồn xung, có cường độ âm tăng lên đột ngột trong thời gian không quá 1 giây[22],[27],[4]. Theo năng lƣợng âm Tiếng ồn dải rộng: Khi năng lượng âm thanh phân bố đều ở tất cả các dải tần số.
Còn gọi là tiếng ồn trắng. 6 Tiếng ồn dải hẹp: Khi năng lượng âm thanh phân bố không đều ở tất cả các dải tần số, mức chênh lệch trên 6dB. Còn gọi là tiếng ồn âm sắc, gây kich thích mạnh hơn tiếng ồn dải rộng[22],[27]. Mức áp âm của một số nguồn ồn trong sản xuất công nghiệp Nguồn ồn Mức áp suất âm (dBA) Nói chuyện thường 55 – 65 Máy dệt kim 83 – 93 Phân xưởng cơ khí: máy tiện, bào 85 – 95 Phân xưởng sợi con 85 – 95 Máy dệt thoi (các loại) 85 – 102 Máy khoan đá cầm tay (khí nén) 100 – 105 Máy của đĩa khi cưa gỗ rắn 100 – 105 Máy mài kim loại cầm tay 100 – 105 Máy tán ri vê trên cầu 100 – 110 Máy khí nén 100 – 105 Động cơ > 100 mã lực, không giảm âm 105 – 115 Động cơ phản lực >140 (Nguồn: Giáo trình Tiếng ồn, rung động trong sản xuất và kỹ thuật xử lý)[4] Theo KG Rampal, I Noorhassim (1996), tiếng ồn cũng được chia làm 4 loại là liên tục hoặc trạng thái ổn định, dao động bất thường, không liên tục và tiếng ồn xung.
Tuy nhiên lại có sự khác biệt giữa tiếng ồn ổn định, không ổn định với mức chênh lệch theo thời gian chỉ là 3 dB và tiếng ồn xung thời gian tăng đột ngột không quá 0,5 giây. Mức độ ồn đặc trƣng một số ngành nghề Mức áp suất âm Nguồn ồn (dBA) Nói chuyện bình thường 60 Phương tiện giao thông 75 Xây dựng ngoài trời 85 Vận hành máy thổi 90 Nhà máy nước giải khát 95 Máy phát điện Diesel 100 Máy ép 105 Máy mài kim loại cầm tay 110 Máy khoan khí nén 115 Động cơ phản lực (cách 3 mét) 145 (Nguồn: KG Rampal, I Noorhassim, 1996)[46] 1. Ngưỡng nghe và ngưỡng đau Âm thanh nghe được có tần số từ 15 – 20.000Hz chỉ trẻ em nghe được.