CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VE HUY DONG VON CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.1 Khai quát về vốn của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm về vốn Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều bắt đầu từ “Vốn” và để hoạt động đầu tư thực sự có hiệu quả thì điều trước tiên các doanh nghiệp phải trăn trở đó là làm thế nào để có đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sử dụng nó như thế nào để có thể đạt được hiệu quả cao nhất. Theo đó đứng ở mỗi giác độ khác nhau thì lại có cách nhìn khác nhau, quan niệm khác nhau về vốn. + Theo quan điểm của Mark - nhìn nhận dưới giác độ của các yếu tố sản xuất thì ông cho rằng: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thing dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. + Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Dambusch trong cuốn “Kinh tế học”: Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo.
Có hai loại vốn: vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá để sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng + Theo cácnhà kinh tế học định nghĩa là “Vốn của ngân hàng thương mại là giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập và huy động được dùng để cho vay,đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ khác nhằm mục tiêu sinh lời”.2 Vai trò của vốn đối với Ngân hàng thương mại eVốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh Mọi hoạt động kinh doanh đều phải bắt đầu từ vốn, vốn để mua tư liệu sản xuất, mua sắm tài sản cũng như thuê lao động. Đối với hệ thống ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Ngoài ra, do đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chính và chủ yếu. Thông qua lượng vốn tự có của mình, ngân hàng đứng ra huy động vốn từ lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư, sau đó tỗ chức cung ứng vốn lại cho nền kinh tế thông qua nghiệp vụ cho vay. Chính vì thế mà người ta gọi vốn là điểm khởi đầu và cũng là điểm kết thúc trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng eVốn quyết định khả năng sinh lời và mở rộng hoạt động kinh doanh của NHTM Với các doanh nghiệp sản xuất — đối tượng kinh doanh là sản phẩm, để có được lợi nhuận cao đòi hỏi họ phải biết tiết kiệm chỉ phí sao cho giá thành sản phẩm phải thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Đối với ngân hang — đối tượng kinh doanh là tiền tệ, do đó quá trình tìm kiếm lợi nhuận chủ yếu thông qua hoạt động cho vay vốn, khi ngân hàng có được một lượng vốn lớn với lãi suất thấp sẽ giúp ngân hàng có khả năng cho vay nhiều hơn, từ đó giúp ngân hàng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, ngân hàng chịu rất nhiều quy định chặt chẽ, ràng buộc của pháp luật như: + Không được phép cho vay một khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng. + Không được đầu tư vào tài sản cố định vượt quá 50% vốn tự có của ngân hàng, + Không được góp vốn vào doanh nghiệp vượt quá 30% vốn tự có của ngân hàng, Từ đó ta có thể khẳng định: Nếu một ngân hàng có nguồn vốn kinh doanh nhỏ sẽ làm hạn chế khả năng mở rộng hoạt động, cũng như ảnh hưởng. đến những quyết định tài chính, từ đó làm giảm khả năng tìm kiếm lợi nhuận của ngân hàng eVốn quyết định khả năng phòng chống rủi ro cho NH thương mại Một ngân hàng có đủ tiềm lực về vốn sẽ giúp ngân hàng đễ dàng vay mượn khi có rủi ro thanh khoản, bởi vốn là nhân tốvô hình đảm bảo để các chủ thể cho vay tin tưởng, nguồn vốn lớn chứng tỏ quá trình kinh doanh có hiệu quả, có khả năng mở rộng hoạt động, nâng cao uy tín trên thị trường. Với những ngân hàng có nguồn vốn lớn thì khả năng dự trữ sơ cấp cũng như thứ cấp sẽtốt hơn, giúp ngân hàng phòng chống rủi ro thanh khoản một cách hiệu quả, vừa đảm bảo tính sinh lời, vừa đảm bảo an toàn.
Ví dụ: Tiền mặt, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác, các chứng khoán có tính lỏng, cao.Đó là các loại đầu trmà khi phát sinh nhu cầu thanh toán ngân hàng có thê thu hồi vốn ngay mà không bị ép giá, hơn nữa khi đầu tư vào các hạng mục này thì sự biến động về giá là không cao, quy mô thị trường lớn, có thể chấp nhận ở bắt kỳ số lượng nào. Các cơ quan quản lý vĩ mô thường sẽ nhìn vào lượng vốn của ngân hàng để quyết định có hỗ trợ hay không khi hoạt động kinh doanh có vấn đề. Bởi một ngân hàng có tiềm lực về vốn lớn sẽ có quan hệ với rất nhiều các chủ thể khác nhau, vì vậy một khi ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản mà không, được giải quyết ngay sẽ gây ảnh hưởng tới các chủ thể kinh doanh khác, từ đó ảnh hưởng tới cả nền kinh tế. eVốn quyết định đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng ~ Vốn quyết định khả năng cạnh tranh về giá.
Khi một ngân hàng có quy mô vốn lớn sẽ cho phép ngân hàng tiếp cận với những khách hàng lớn, có quy mô một giao dịch giá trị cao, từ đó làm giảm chị phí trả lãi trên một đồng vốn huy động. Nếu ngân hàng chấp nhận mức chỉ phí huy động ngang với thị trường thì ngân hàng có thê tăng lãi suất huy động mà vẫn đảm bảo lợi nhuận, thu hút thêm khách hàng mới, khả năng cạnh tranh của ngân hàng cũng được cải thiện. Một ngân hàng có quy mô vốn lớn sẽ có thể: + Đa dạng hóa hoạt động đầu tư cũng như hoạt động cho vay, làm giảm rủi ro từ đó có thể giảm lãi suất cho vay. + Chi phi quản lý đối với một khoản vay giảm từ đó có thể giảm lãi suất cho vay.
+ Ngân hàng có thể cho vay một khoản vay với giá trị lớn từ đó làm giảm chỉ phí quản lý khoản vay trên một đồng vồn và làm giảm lãi suất cho vay. Khi ngân hàng giảm được lãi suất cho vay sẽ là cơ sở tốt đề ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh, nâng cao vị thế của mình. ~_ Vốn quyết định khả năng cạnh tranh về chất lượng sản phẩm dịch vụ. Như chúng ta đã biết sản phẩm của ngân hàng mang tinh vô hình, do.
vậy chất lượng của nó phụ thuộc rất lớn vào nhân viên cũng như công nghệ mà ngân hàng sử dụng. Khi một ngân hàng có tiềm lực về vốn sẽ giúp ngân hàng có khả năng cập nhật công nghệ mới, ứng dụng công nghệ trong mọi hoạt độngkinh doanh, có chính sách với nhân viên giỏi tốt, có khả năng đào tạo cập nhật kiến thức cho nhân viên thường xuyên. Từ đó có cơ sở để tăng, mức độ tiện ích của sản phâm, mở rộng phát triển sản phẩm mới, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, khẳng định vị thế của ngân hàng trên thương trường.3 Cơ cấu về vốn của Ngân hàng thương mại Vốn của ngân hàng thương mại được thể hiện trong bảng cân đối tài sản là toàn bộ phần nguồn vốn, nó được hình thành từ các nghiệp vụ tài sản nợ, bao gồm bón phần chính như sau: Vin tự có Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập được thuộc về sở hữu của ngân hàng (Đây là vốn pháp lý bắt buộc đề có thể thành lập ngân hàng, và nó thường tăng lên trong quá trình kinh doanh) Vốn tự có có tính chất ôn định vì thế Ngân hàng thường sử dụng để mua sắm trang thiết bị, cơ sở vật chất như xây dựng nhà cửa cho ngân hàng hoặc dùng dé đầu tư hay góp vốn liên doanh. Vốn này tuy chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng nó lại có vai trò rất quan trọng, thông thường, nguồn vốn này càng lớn thì cơ hội phát triển hoạt động kinh doanh càng cao.
Sự tăng trưởng của nó sẽ quyết định năng lực và sự phát triển của NHTM. Vốn tự có gồm các thành phan: + Vốn tự có cơ bản (hay còn gọi là vốn điều lệ, vốn pháp định) nguồn vốn này. được ghi vào điều lệ kinh doanh của ngân hàng. Giá trị tối thiểu của nó phải bằng vốn pháp định + Vốn tự có bỗ sung: Trong quá trình hoạt động ngân hàng có thể gia tăng vốn tự có theo nhiều phương thức khác nhau từ các quỹ: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự trữ đặc biệt.
Hoặc từ lợi nhuận hoặc nguồn vốn bỗ sung từ phát hành thêm cỗ phiếu. eVốn huy động Vốn huy động là những giá trị tiền ệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội. Đặc điểm của nguồn vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc bắt cứ khi nào khách hàng có nhu cầu.
* Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi vào hay rút ra bất cứ lúc nào, mục đích chính của người gửi tiền dưới dạng tài khoản này là để thanh toán bằng cách phát hành các loại thẻ, séc, ủy nhiệm chỉ Đặc điểm của tiền gửi thanh toán:Khách hàng có thẻ sử dụng trực tiếp tài khoản trong hoạt động thanh toán, Ngân hàng thực hiện các nhu cầu chỉ trả của doanh nghiệp và cá nhân trong phạm vi số dư cho phép, vì thế các khách hàng chỉ cầnduy trì số dư trong tài khoản là có thẻ chỉ tiêu, đây chính là lý do tại sao người ta gọi thanh toán qua thẻ là “ví điện tử”. Tiền gửi thanh toán thường có lãi suất rất nhỏ hoặc bằng 0, đồng thời khách hàng còn phải duy trì một số dư nhất định trong tài khoản - gọi là số dư tối thiểu, tùy thuộc vào quy định từng ngân hàng mà số dư này là như thế nào. Ngày nay hệ thống ngân hàng phát triển thêm rất nhiều loại hình dịch vụ mới, tăng tính tiện ích trong. thanh toán đề thu hút khách hàng như home banking, mobile banking, chuyén tiền 24/7, dịch vụ thanh toán hóa đơn điện nước.