phần mở đầu, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo và kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Đông Hà Nội. Chƣơng 3: Giải pháp tăng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triền nông thôn Đông Hà Nội 6 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN TỪ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương maị Với mỗi nền kinh tế, ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng.Rose (2004), Quản trị Ngân hàng thƣơng mại, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội Ngân hàng thƣơng mại là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Theo điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 số 47/2010/QH12 ban hành ngày 16 tháng 6 năm 2010, Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng gồm: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng và Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thƣơng mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Ở Mỹ, Ngân hàng thƣơng mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Còn với Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thƣơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các 7 hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Ở Việt Nam, tại điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Nhƣ vậy có thể hiểu, Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức kinh tế, có đối tƣợng kinh doanh là tiền tệ, thực hiện nhiệm vụ huy động vốn, cấp tín dụng và làm trung gian thanh toán. Nhƣ vậy, dù theo định nghĩa nào thì NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt, có đối tƣợng kinh doanh là tiền tệ, sản phẩm của NHTM có tính đặc thù cao, cả đầu ra và đầu vào đều là tài sản tài chính. Ngân hàng thƣơng mại có những đặc trƣng sau: - Trung gian tài chính: Ngân hàng làm trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh tế và các thành phần kinh tế khác.
- Trung gian thanh toán: Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ. Việc thanh toán đƣợc thực hiện an toàn, nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm thông qua nhiều hình thức dịch vụ và màng lƣới rộng khắp của ngân hàng: Phát hành và bù trừ séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu. - Tạo phương tiện thanh toán và thực hiện chính sách kinh tế của Chính phủ góp phần điều tiết sự tăng trƣởng kinh tế và theo đuổi mục tiêu xã hội. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại Hoạt động của NHTM bao gồm: Hoạt động kinh doanh và hoạt động khác.
Trong đó, hoạt động kinh doanh của NHTM đƣợc hiểu là các hoạt động chủ yếu đem lại lãi và phí cho NHTM (tạo ra doanh thu cho NHTM); hoạt 8 động khác là các hoạt động xảy ra không thƣờng xuyên, không dự tính trƣớc và ngoài các hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm các hoạt động chủ yếu sau: 1. Hoạt động cấp tín dụng Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. - Hoạt động cho vay Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Đây là nghiệp vụ kinh doanh truyền thống của NHTM. Các NHTM sƣ̉ dung̣ phần lớn sốtiền huy đông̣ đƣơc̣ đểcho vay đối với nền kinh tế. Đây làhoaṭđông̣ kinh doanh taọ ra doanh thu chủ yếu đểbùđắp các loaị chi phítrong hoaṭđông̣ ngân hàng. Tuỳ theo mục đích, tính chất khoản vay, ngƣời ta phân loại hoạt động tín dụng thành những loại chủ yếu sau: + Căn cƣ́ vào thời haṇ cho vay , có thể phân biệt thành 3 loại: (i) Cho vay ngắn haṇ là khoản cho vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng; (ii) Cho vay trung haṇ là khoản cho vay có thời hạn cho vay tƣ̀ trên 12 tháng đến 60 tháng; (iii) Cho vay dài haṇ là khoản cho vay có thời hạn cho vay trên 60 tháng.
Trong thƣc̣ tế, nghiêp̣ vu ̣truyền thống của NHTM làcho vay ngắn haṇ , tƣ̀ nhƣng năm 70 của thế kỷ trƣớc trơ laịđây đa mơ rông̣ hơn cho vay trung va ̃ ̉ ̃ ̉ ̀ dài hạn. + Căn cƣ vao tinh chất bao đam cua khoan vay co thểchia lam 2 loại: ́ ̀ ́ ̉ ̉̉ ̉ ́ ̀ (i) Cho vay cóbảo đảm bằng tài sản làloaịcho vay màkhách hàng phải cótài 9 sản thế chấp , cầm cốhoăc̣ bao lanh cua bên thƣ ba lam bao đam ; (ii) Cho vay ̉ ̃ ̉ ́ ̀ ̉ ̉ không co bao đam bằng tai san la cho vay dƣạ vao sƣ ̣tin nhiêṃ cua ngân hang ́ ̉ ̉ ̀ ̉ ̀ ̀ ́ ̉ ̀ đối vơi khach hang. ́ ́ ̀ Bảo đảm tiền vay là biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng cho vay , hạn chếrui ro tin dung̣ cho ngân hang và yêu cầu ngƣời đi vay có trách nhiệm hơn ̉ ́ ̀ trong việc sử dụng có hiệu quả đồng vốn vay. Vềhinh thƣc , cho vay co bao ̀ ́ ́ ̉ đam bằng tai san dƣơng nhƣ co mƣc đô ̣rui ro thấp hơn cho vay không co bao ̉ ̀ ̉ ̀ ́ ́ ̉ ́ ̉ đam bằng tai san , nhƣng thƣc̣ tếkhông hoan toan nhƣ vâỵ, đăc̣ biêṭla khi ̉ ̀ ̉ ̀ ̀ ̀ ngân hang cho vay tuyêṭđối hoa vai tro cua tai san bao đam ma coi nhe ̣cac ̀ ́ ̀ ̉ ̀ ̉ ̉ ̉ ̀ ́ ̣mấ điều kiêṇ tin dung̣ khac , hơn nƣa, ngân hang con co thểbi t đi nhƣng khach ́ ́ ̃ ̀ ̀ ́ ̃ ́ hàng tốt.
Viêc̣ cho vay co bao đam bằng tai sản là cần thiết , nhƣng không thể ́ ̉ ̉ ̀ coi làđiều kiêṇ tiên quyết khi cho vay. Xét ở góc độ hiệu quả của nền kinh tế , nếu cho vay không co bao đam bằng tai san đƣơc̣ mơ rông̣ (đối vơi nhƣng ́ ̉ ̉ ̀ ̉ ̉ ́ ̃ khách hàng đủ điều kiện ) chƣ́ng tỏ rằng uy tiń của ngƣời vay làtốt , nền kinh tếđang phát triển lành manḥ vàcótriển vong̣ tốt. - Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lƣu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhƣợng, giấy tờ có giá khác của ngƣời thụ hƣởng trƣớc khi đến hạn thanh toán. - Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhƣợng, giấy tờ có giá khác đã đƣợc chiết khấu trƣớc khi đến hạn thanh toán.
- Hoạt động cho thuê tài chính Hoạt động này đƣợc thực hiện trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là NHTM với khách hàng thuê. Khi kết thúc thời gian thuê , khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê. Hiêṇ nay , cho thuê tai chinh đa trơ thanh phƣơng ̀ ́ ̃ ̉ ̀ thƣc tai trơ ̣vốn quan trọng cho các doanh nghiệp , không chi ơ cac nƣơc phat ́ ̀ ̉ ̉ ́ ́ ́ triển ma kểca nhƣng nƣơc đang phat triển. Tuy nhiên, xuất phat tƣ điều kiêṇ ̀ ̉ ̃ ́ ́ ́ ̀ 10 kinh tếvàmôi trƣờng kinh doanh , ở các nƣớc phát triển việc áp dụng phƣơng thƣ́c tài trơ ̣này mang tính phổ biến hơn , cách thức vận dụng linh hoạt hơn ở các nƣớc đang phát triển.
Các công ty cho thuê tài chính không chỉ thực hiện nghiêp̣ vu ̣cho thuê tài chinh́ , mà còn thực hiện nghiệp vụ cho thuê vận hành , vì ở các nƣớc phát triển thi ̣trƣờng hàng hoácũhoaṭđông̣ tốt hơn. - Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lƣu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. - Hoạt động bảo lãnh Theo thông tƣ số 28/2012/TT – NHNN ngày 03 tháng 10 năm 2012 của ngân hàng Nhà nƣớc quy định, Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết bằng cam kết bằng văn bản với bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên đƣợc bảo lãnh khi bên dƣợc bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hienj không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh, bên đƣợc bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh theo thỏa thuận. Nhờ khả năng thanh toán cao do nắm giữ một lƣợng tiền gửi tƣơng đối lớn của cá nhân, tổ chức và có sự tin cậy nhất định trong xã hội nên ngân hàng có thể đứng ra bảo lãnh cho khách hàng của mình sẽ thực hiện đầy đủ các cam kết khi giao dịch với các tổ chức kinh tế , cá nhân khác.
Với nghiêp̣ vụ này , khi ngƣời đƣơc̣ bảo lanh̃ không thƣc̣ hiêṇ đƣơc̣ nghiã vu ̣theo hơp̣ đồng thìngƣời bảo lanh̃ phải thƣc̣ hiêṇ đầy đủ các nghĩa vụ mà ngƣời đƣợc bảo lãnh cam kết.