Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. - Chương 2: Lý luận chung về lập KHKT BCTC do KTNN thực hiện. - Chương 3: Thực trạng công tác lập KHKT BCTC do KTNN Chuyên ngành VI thực hiện - Chương 4: Các giải pháp đề xuất và kết luận. 5 CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN 2.
Kiểm toán báo cáo tài chính và vai trò của lập kế hoạch kiểm toán trong cuộc kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp 2. Khái quát về kiểm toán Báo cáo tài chính doanh nghiệp Theo quan điểm hiện đại về kiểm toán thì “Kiểm toán là quá trình các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin được kiểm toán nhằm xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”[9, tr5]. Nằm trong hệ thống kiểm toán nói chung, kiểm toán BCTC là một hoạt động đặc trưng của kiểm toán. Đó là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về BCTC của các thực thể kinh tế do những người có trình độ nghiệp vụ tương xứng đảm nhận và dựa trên hệ thống pháp lý đang có hiệu lực.
Thông thường, các tiêu chuẩn đặc thù sử dụng để đưa ra ý kiến về BCTC là các nguyên tắc kế toán được thừa nhận chung. Theo nguyên tắc này, Kiểm toán viên (KTV) phải xác định xem toàn bộ BCTC được lập so với những tiêu chuẩn chung của kế toán được chấp nhận để xác minh tính trung thực của thông tin trong các BCTC, cùng tính pháp lý của các biểu mẫu chứa đựng các thông tin đó. Chủ thể kiểm toán BCTC có thể là KTV KTNN, KTV kiểm toán độc lập hoặc KTV nội bộ. Đối với KTNN, cuộc kiểm toán doanh nghiệp thường là cuộc kiểm toán liên kết, ngoài mục tiêu kiểm toán BCTC, các cuộc kiểm toán này còn hướng vào những thành tích và hiệu quả thông qua xem xét việc thiết lập hệ thống thông tin, quản lý và điều hành nhằm tối ưu hoá việc sử dụng các nguồn lực công tại doanh nghiệp.
Đối tượng trực tiếp của kiểm toán BCTC doanh nghiệp là các BCTC – “hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn 6 vị”[2, tr3]. Đồng thời, để xác minh và bày tỏ ý kiến về BCTC, kiểm toán BCTC không thể tách rời các tài liệu kế toán, hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý của doanh nghiệp nhằm xác minh cụ thể độ tin cậy của từng khoản mục cũng như mối quan hệ kinh tế chứa đựng trong các số dư, các chỉ tiêu phản ánh các mối quan hệ bên trong của hoạt động tài chính. Mục tiêu của kiểm toán BCTC nói chung là giúp cho KTV đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không. Ngoài ra, tuỳ theo đặc điểm từng cuộc kiểm toán mà quá trình kiểm toán BCTC còn gắn liền với các mục tiêu kiểm toán như: đánh giá sự tuân thủ luật pháp, các chính sách, cơ chế, chế độ và các quy định có liên quan đến tình hình tài chính của đơn vị; hoặc giúp cho doanh nghiệp được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị;.
Theo trình tự kiểm toán chung đối với KTNN, quy trình kiểm toán BCTC gồm các bước cơ bản sau: Chuẩn bị kiểm toán; Thực hiện kiểm toán; Kết thúc kiểm toán và Kiểm tra thực hiện kết luận và kiến nghị kiểm toán. Trong đó, lập KHKT là một trong những bước công việc đầu tiên của quy trình kiểm toán. Lập kế hoạch kiểm toán 2. Kế hoạch kiểm toán “Kế hoạch là toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệ thống và cụ thể về cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định, với mục tiêu nhất định” [47].
Kế hoạch là sự thể hiện ý đồ phát triển của chủ thể quản lý đối với một đối tượng quản lý và các giải pháp để thực thi. Để có thể đạt được mục tiêu đã đề ra, chủ thể quản lý cần xây dựng kế hoạch, trong đó bao gồm một tập hợp những hoạt động được sắp xếp theo lịch trình, có thời hạn, nguồn lực, ấn định những mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp tốt nhất… để tác động lên đối tượng quản lý. Đồng thời, kế hoạch cũng là công cụ kiểm tra, giám sát hiệu quả thực hiện các mục tiêu đã xác định. 7 Trong hoạt động kiểm toán, KHKT của cuộc kiểm toán là kế hoạch tác nghiệp kiểm toán, trong đó thiết lập các phương pháp, cách thức và trình tự kiểm toán phù hợp với đối tượng được kiểm toán; đồng thời xác định mục tiêu, nội dung kiểm toán, nhân sự, thời gian, phương tiện và kinh phí phục vụ cho cuộc kiểm toán nhằm đạt mục tiêu kiểm toán đã đề ra.
Để đảm bảo cho KHKT có tính thực tiễn cao, dễ dàng thực hiện, KHKT BCTC doanh nghiệp thường được chia thành nhiều bộ phận, nhằm từng bước cụ thể hoá mục tiêu, nội dung, cách thức thực hiện để đạt mục tiêu chung của cuộc kiểm toán. Căn cứ phân chia trên mức độ chi tiết của từng loại kế hoạch, kế hoạch của cuộc kiểm toán BCTC doanh nghiệp bao gồm KHKT tổng quát (được lập cho tổng thể cuộc kiểm toán), KHKT chi tiết (được lập đối với từng đơn vị thuộc phạm vi cuộc kiểm toán) và chương trình kiểm toán (được lập đối với từng nội dung, phần hành công việc thực hiện tại đơn vị được kiểm toán). Trong đó: KHKT tổng quát "xác định mục tiêu chủ yếu của cuộc kiểm toán, các bộ phận trọng yếu sẽ được khảo sát, xác định người điều hành cuộc kiểm toán,. và tiến độ, lượng thời gian phải hoàn thành đối với từng bộ phận và cả quá trình kiểm toán, là cơ sở cho việc lập KHKT chi tiết và thiết kế chương trình kiểm toán" [9, tr315] Nội dung chủ yếu của KHKT tổng quát bao gồm: mục tiêu, nội dung trọng tâm của cuộc kiểm toán, phạm vi kiểm toán (trong đó bao gồm thời kỳ được kiểm toán và dự kiến các đơn vị thành viên được kiểm toán); nội dung, lịch trình và nguồn lực cần thiết để thực hiện cuộc kiểm toán (bao gồm việc bố trí các nhóm kiểm toán, thời gian và phân công kiểm toán tại các đơn vị cho các nhóm, dự kiến kinh phí và các điều kiện vật chất khác); phương thức quản lý, chỉ đạo và giám sát các nguồn lực.
KHKT chi tiết được xây dựng đối với mỗi đơn vị được kiểm toán thuộc phạm vi cuộc kiểm toán. Kế hoạch chi tiết cụ thể hoá KHKT tổng quát, bao gồm phạm vi, lịch trình và cách thức thực hiện kiểm toán tại các đơn vị thành viên để đạt mục tiêu chung của cuộc kiểm toán và thực hiện công việc kiểm toán một 8 cách có hiệu quả, theo đúng thời gian dự kiến. Nội dung chủ yếu của KHKT chi tiết bao gồm: mục tiêu, phạm vi, nội dung, trọng tâm kiểm toán, lịch trình và phân bổ nguồn lực thực hiện kiểm toán tại đơn vị thành viên (bao gồm việc bố trí thời gian và phân công công việc kiểm toán, đặc biệt là việc bố trí thời gian và phân công KTV có kinh nghiệm thích hợp đối với các vùng kiểm toán có rủi ro cao); phương thức quản lý, chỉ đạo và giám sát các nguồn lực. Chương trình kiểm toán là "những dự kiến chi tiết, tỷ mỷ về nội dung.
Trình tự công việc kiểm toán chi tiết cho từng tài khoản hay từng thông tin tài chính cần được kiểm toán” [9, tr318]. Nội dung của chương trình kiểm toán bao gồm các bước công việc kiểm toán chi tiết và trình tự thực hiện, các thủ tục kiểm toán cần thực hiện, thời gian thực hiện, mẫu chọn của từng khoản mục, nội dung kiểm toán. Chương trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán được thiết kế thành 3 phần: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm trực tiếp số dư. Mỗi phần được chia nhỏ thành các chu kỳ nghiệp vụ và các khoản mục trên BCTC.
Phạm vi và nội dung lập KHKT sẽ thay đổi tùy theo qui mô của từng doanh nghiệp và tính chất phức tạp của từng cuộc kiểm toán. Việc phân chia KHKT thành ba bộ phận KHKT tổng quát, KHKT chi tiết và chương trình kiểm toán như trên tương đối phù hợp đối với các cuộc kiểm toán có quy mô lớn, doanh nghiệp có nhiều đơn vị thành viên hoặc các cuộc kiểm toán thực hiện trong nhiều năm. Đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, phạm vi cuộc kiểm toán chỉ bao gồm một đơn vị được kiểm toán, kế hoạch tổng quát và KHKT chi tiết có thể gộp làm một. Trong khi đó, đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, cơ cấu phức tạp, gồm nhiều đơn vị thành viên, mỗi đơn vị thành viên lại gồm nhiều đơn vị thành viên trực thuộc thì KHKT chi tiết lại có thể tách thành nhiều bộ phận kế hoạch nhỏ hơn để có thể từng bước cụ thể hoá mục tiêu, nội dung, cách thức thực hiện cuộc kiểm toán.
Lập kế hoạch kiểm toán Lập KHKT là bước công việc đầu tiên cho một cuộc kiểm toán và có ảnh hưởng quan trọng đến các bước công việc tiếp theo. KHKT phù hợp sẽ cho phép KTV triển khai công việc đúng hướng, đúng trọng tâm, tránh được những sai sót và hoàn tất công việc nhanh chóng. Về cơ bản, trình tự lập KHKT của một cuộc kiểm toán bao gồm các bước thể hiện ở sơ đồ: Khảo sát, thu thập thông tin về doanh nghiệp và cuộc kiểm toán Phân tích, đánh giá thông tin KHKT tổng quát Lập KHKT KHKT chi tiết Chương trình kiểm toán Sơ đồ 2. Sơ đồ trình tự lập kế hoạch kiểm toán Trong đó, đối với từng bộ phận KHKT, nội dung và trình tự lập cụ thể như sau: Thứ nhất, lập kế hoạch kiểm toán tổng quát KHKT tổng quát được lập đối với cuộc kiểm toán, trước khi thực hiện cuộc kiểm toán.