Tổng quan nghiên cứu

Phản ứng có hại của thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây ra các biến cố bất lợi trong quá trình điều trị nội trú, chiếm tỷ lệ gần 20% các trường hợp can thiệp y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh trên toàn cầu. Theo các thống kê lâm sàng tại Bệnh viện Hoàng gia Liverpool, tần suất người bệnh gặp phản ứng có hại của thuốc trong vòng 6 tháng lên tới 20%, trong đó 2% trường hợp chịu tổn thương nặng và 0,2% tử vong. Tại Mỹ, mỗi năm ghi nhận khoảng 2,2 triệu ca phản ứng có hại nghiêm trọng ở bệnh nhân nội trú, cướp đi sinh mạng của hơn 106.000 người và làm kéo dài thời gian nằm viện trung bình gần 2 ngày, gây tổn thất kinh tế ước tính 3.500 USD trên mỗi ca bệnh. Tại Việt Nam, hệ thống báo cáo tự nguyện năm 2016 tiếp nhận 9.467 báo cáo, đạt tỷ lệ 101 báo cáo trên một triệu dân, con số này vẫn thấp hơn đáng kể so với mức khuyến cáo 200 báo cáo trên một triệu dân do Tổ chức Y tế Thế giới đề ra.

Bệnh viện Phổi Bắc Giang là bệnh viện chuyên khoa hạng III tuyến tỉnh với quy mô 220 giường kế hoạch và 350 giường bệnh thực tế. Đặc thù điều trị các bệnh lao và bệnh phổi đòi hỏi sử dụng nhiều phác đồ kháng sinh phối hợp dài ngày, tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện phản ứng bất lợi cao. Mặc dù là một trong những đơn vị có số lượng báo cáo tích cực trên cả nước, số lượng phản ứng có hại ghi nhận tại bệnh viện vẫn chưa phản ánh hết thực tế lâm sàng và thiếu vắng sự tham gia của khối bác sĩ điều trị. Luận văn tập trung giải quyết vấn đề đánh giá thực trạng công tác tổ chức, phân tích 569 báo cáo phản ứng có hại lưu trữ trong giai đoạn 2011 đến 2016, đồng thời khảo sát toàn diện nhận thức và thái độ của toàn bộ nhân viên y tế tại đơn vị. Nghiên cứu mang ý nghĩa then chốt trong việc chuẩn hóa quy trình giám sát an toàn thuốc, nâng tỷ lệ báo cáo đạt chuẩn chất lượng từ mức điểm 0,8 trở lên, hướng tới việc giảm thiểu tối đa các biến cố đe dọa tính mạng cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận hành dựa trên khung lý thuyết chuẩn hóa về Cảnh giác Dược của Tổ chức Y tế Thế giới, kết hợp chặt chẽ với Chu trình giám sát an toàn thuốc trong bệnh viện theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Trọng tâm đánh giá hệ thống quản lý dựa trên Bộ công cụ IPAT (Indicator-based Pharmacovigilance Assessment Tool), bao gồm 34 chỉ số tiêu chuẩn (21 chỉ số chính và 13 chỉ số phụ). Hệ thống IPAT cho phép lượng hóa hiệu quả hoạt động qua 5 trục nội dung: cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất và nhân lực, hệ thống biểu mẫu chuyên môn, hoạt động nghiên cứu an toàn thuốc, và công tác truyền thông thông tin thuốc.

Bên cạnh mô hình IPAT, nghiên cứu áp dụng các khái niệm và công cụ chuẩn hóa quốc tế:

  • Cảnh giác Dược (Pharmacovigilance): Khoa học và các hoạt động liên quan đến việc phát hiện, đánh giá, hiểu và phòng ngừa phản ứng có hại hoặc bất kỳ vấn đề nào khác liên quan đến thuốc.
  • Biến cố bất lợi của thuốc (ADE): Bất kỳ biến cố y khoa bất lợi nào xảy ra trong quá trình sử dụng thuốc nhưng không nhất thiết có mối quan hệ nhân quả chắc chắn với việc dùng thuốc.
  • Phản ứng có hại của thuốc (ADR): Phản ứng độc hại, không định trước và xuất hiện ở liều thường dùng cho người để phòng bệnh, chẩn đoán, chữa bệnh hoặc làm thay đổi một chức năng sinh lý.
  • Sai sót liên quan tới thuốc (Medication Errors): Các biến cố có thể phòng tránh được xảy ra trong quá trình kê đơn, phân phối, cấp phát và sử dụng thuốc.

Để chuẩn hóa việc phân tích dữ liệu lâm sàng, đề tài sử dụng Hệ thống phân loại Giải phẫu - Điều trị - Hóa học (ATC) của Tổ chức Y tế Thế giới để phân nhóm thuốc đến bậc 3, kết hợp từ điển bệnh học ICD-10 nhằm xác định lý do dùng thuốc. Biểu hiện lâm sàng bất lợi được mã hóa chuẩn xác theo bộ thuật ngữ quốc tế WHO-ART 2012, liên kết thuật ngữ ưu tiên (Preferred Term - PT) với mã phân loại cơ quan bị ảnh hưởng (System Organ Classes - SOC). Mối quan hệ nhân quả giữa thuốc và phản ứng được thẩm định theo thang đo quy chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp giữa hồi cứu dữ liệu hồ sơ và điều tra khảo sát định lượng không can thiệp. Timeline nghiên cứu được thực hiện tập trung từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 9 năm 2017 tại khuôn viên Bệnh viện Phổi Bắc Giang.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu được phân định rõ ràng theo hai nhánh mục tiêu:

  • Nhánh 1 (Hồi cứu dữ liệu): Chọn mẫu toàn bộ 569 báo cáo phản ứng có hại của thuốc được ghi nhận và lưu trữ chính thức tại Khoa Dược trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 12 năm 2016. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn nhằm thu thập toàn diện bức tranh dịch tễ học về biến cố thuốc qua 6 năm liên tục mà không bỏ sót bất kỳ trường hợp nghiêm trọng nào.
  • Nhánh 2 (Khảo sát nhận thức và thực hành): Thực hiện chọn mẫu điều tra toàn bộ 100% nhân viên y tế đang công tác trực tiếp tại các khoa lâm sàng điều trị nội trú và dược sĩ Khoa Dược. Dữ liệu được thu thập thông qua bộ câu hỏi cấu trúc phát tận tay kết hợp phỏng vấn trực tiếp tại khoa phòng, đảm bảo tính khuyết danh để thu nhận câu trả lời chân thực.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả là bởi nghiên cứu hướng đến việc xác định bức tranh thực trạng, đánh giá mức độ hoàn thiện các trường thông tin theo quy định của Thông tư 23/2011/TT-BYT và thang điểm chuẩn của Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc. Toàn bộ số liệu thu thập được làm sạch, nhập liệu và xử lý bằng các phần mềm thống kê chuyên dụng bao gồm Microsoft Excel 2010, Epi Info 7 và SPSS 16. Các biến số định lượng được mô tả qua giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn hoặc trung vị và khoảng tứ phân vị, trong khi các biến số định tính được biểu diễn bằng tần số và tỷ lệ phần trăm cụ thể.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích hệ thống tổ chức qua bộ công cụ IPAT cho thấy bức tranh phân hóa rõ nét giữa các nhóm tiêu chuẩn. Bệnh viện đạt điểm rất khả quan ở tiêu chí Cơ sở vật chất và nhân lực với tỷ lệ 84,6% (11/13 điểm) và Cơ cấu tổ chức với 81,8% (9/11 điểm) nhờ ban hành kịp thời các quy trình giám sát và thành lập đơn vị thông tin thuốc. Ngược lại, điểm số ở các nhóm triển khai biểu mẫu liên quan chỉ đạt 18,2% (2/11 điểm), công tác nghiên cứu an toàn thuốc đạt 44,4% (4/9 điểm) và hoạt động thông tin truyền thông đạt mức thấp là 27,3% (3/11 điểm). Đơn vị hoàn toàn thiếu vắng các biểu mẫu báo cáo sai sót thuốc, báo cáo chất lượng thuốc và biểu mẫu báo cáo dành cho bệnh nhân.

Trong giai đoạn 2011 đến 2016, bệnh viện ghi nhận tổng cộng 569 báo cáo phản ứng có hại, số lượng tăng đều từ 82 báo cáo năm 2011 lên 109 báo cáo năm 2016. Phản ứng tập trung nhiều nhất vào quý II và quý III hàng năm, trong khi quý I luôn có số ca thấp nhất. Đặc biệt, chủ thể lập báo cáo có sự lệch pha nghiêm trọng: điều dưỡng viên đóng góp tới 82% (467 báo cáo), dược sĩ chiếm 18% (102 báo cáo), trong khi tỷ lệ tham gia từ khối bác sĩ điều trị là 0%. Khoa Lao phổi dẫn đầu về số lượng báo cáo với 201 ca (35,3%), tiếp đến là Khoa Bệnh phổi ngoài lao với 163 ca (28,7%), Khoa Lao ngoài phổi và Cấp cứu chiếm 112 ca (19,7%), và Khoa Lao kháng thuốc ghi nhận 93 ca (16,3%). Đáng chú ý, có 70 báo cáo thuộc mức độ nghiêm trọng (chiếm 12,3% tổng số ca), bao gồm 31 ca đe dọa tính mạng (chiếm 44,3% số ca nghiêm trọng) và 39 ca dẫn tới nhập viện hoặc kéo dài thời gian điều trị (chiếm 55,7% số ca nghiêm trọng). Tỷ lệ phản ứng nghiêm trọng chạm đỉnh vào năm 2013 với mức 20,7%.

Về đặc điểm dược lý, nhóm thuốc điều trị lao (mã ATC J04A) là căn nguyên hàng đầu gây ra 66,3% tổng số biến cố (377 trường hợp), tiếp theo là nhóm kháng khuẩn cephalosporin betalactam khác với 20,0% (114 trường hợp) và nhóm penicillin với 9,7% (55 trường hợp). Hoạt chất bị ghi nhận nhiều nhất là Streptomycin chiếm 33,4% (190 báo cáo), Pyrazinamid chiếm 9,7% (55 báo cáo), Ceftazidim chiếm 9,3% (53 báo cáo), Cefuroxim chiếm 8,3% (47 báo cáo) và Ethambutol chiếm 7,9% (45 báo cáo). Xét theo đường dùng, đường uống chiếm tỷ lệ lớn nhất với 35,0% (199 trường hợp), test lẩy da chiếm 26,9% (153 trường hợp) và đường tiêm bắp chiếm 24,6% (140 trường hợp).

Đối với phân loại tổn thương theo mã SOC, rối loạn da và mô dưới da chiếm áp đảo với 70,0% trường hợp, tiếp sau là phản ứng tại chỗ chiếm 16,9% và rối loạn hệ thần kinh chiếm 10,9%. Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất là ngứa với 363 ca (63,8%), mẩn đỏ tại vị trí tiêm với 96 ca (16,9%), ban đỏ với 75 ca (13,2%), chóng mặt với 35 ca (6,2%) và sốt với 29 ca (5,1%). Cặp thuốc - biến cố xuất hiện với tần suất cao nhất là Streptomycin kết hợp ngứa với 114 ca (chiếm 20,0% tổng số báo cáo) và Streptomycin kết hợp mẩn đỏ tại vị trí tiêm với 46 ca (8,1%). Điểm chất lượng trung bình của báo cáo toàn giai đoạn đạt mức 0,80 trên thang điểm 1. Tỷ lệ báo cáo chất lượng kém dưới 0,8 điểm đã giảm mạnh từ mức 61,0% năm 2011 xuống chỉ còn 30,6% vào năm 2016. Báo cáo do dược sĩ thực hiện đạt điểm chất lượng trung bình 0,81 ± 0,12, nhỉnh hơn mức 0,80 ± 0,13 của điều dưỡng viên.

Thảo luận kết quả

Thực trạng bác sĩ chiếm 0% tỷ lệ gửi báo cáo phản ứng có hại là một phát hiện điển hình, phản ánh rõ rào cản tâm lý và tổ chức trong môi trường điều trị nội trú. Điều này hoàn toàn tương thích với các lý do không báo cáo từng được Inman tổng kết, bao gồm tâm lý sợ quy kết trách nhiệm cá nhân, áp lực khối lượng công việc lâm sàng và suy nghĩ mặc định rằng việc điền phiếu giấy là phận sự của điều dưỡng hoặc bộ phận dược. Các nghiên cứu quốc tế cũng ghi nhận rào cản tương đồng: tại Bỉ có 40% bác sĩ không báo cáo do thiếu mẫu sẵn có và 27% quá bận rộn; tại Hà Lan có tới 72% bác sĩ không báo cáo vì không dám chắc về mối quan hệ nhân quả giữa thuốc và biểu hiện bệnh lý.

Sự thống trị của các biến cố ngoài da (ngứa 63,8%, ban đỏ 13,2%) và cặp tác nhân Streptomycin phản ánh trung thực mô hình bệnh tật chuyên khoa lao. Tuy nhiên, sự vắng bóng gần như hoàn toàn của các biến cố huyết học, tổn thương gan hay suy giảm chức năng thận cho thấy nhân viên y tế tại đơn vị mới chỉ tập trung ghi nhận các triệu chứng dễ thấy qua quan sát bên ngoài, chưa chủ động khai thác các bất thường trên kết quả xét nghiệm cận lâm sàng.

Xu hướng cải thiện chất lượng báo cáo qua các năm (tỷ lệ báo cáo dưới 0,8 điểm giảm hơn một nửa từ 61,0% xuống 30,6%) cho thấy nỗ lực chuyển đổi từ sổ ghi chép nội bộ sang biểu mẫu chuẩn hóa theo Thông tư 23/2011/TT-BYT phát huy tác dụng tích cực. Mức độ hoàn thiện thông tin tại đơn vị vượt trội hơn kết quả của một nghiên cứu toàn quốc giai đoạn 2009-2011 trên thuốc chống lao, nơi có tới 23,2% báo cáo dưới 0,5 điểm và 7,39% báo cáo đạt điểm 0 do thiếu các dữ liệu bệnh nhân tối thiểu.

Về phương thức biểu đạt trực quan, toàn bộ dữ liệu biến động số lượng báo cáo theo quý và năm nên được mô tả bằng biểu đồ cột nhóm kết hợp đường xu hướng nhằm làm nổi bật chu kỳ gia tăng báo cáo vào quý II và quý III. Cơ cấu tổ chức cơ thể bị ảnh hưởng (mã SOC) và các nhóm dược lý nghi ngờ (mã ATC) thích hợp nhất khi được trình bày qua biểu đồ thanh ngang phân cấp và biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng phần trăm. Sự dịch chuyển chất lượng báo cáo qua các năm cần được hiển thị bằng biểu đồ diện tích chồng để minh họa rõ nét tiến trình thu hẹp tỷ lệ báo cáo dưới 0,8 điểm qua từng giai đoạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuẩn hóa và nâng cao toàn diện hiệu quả công tác Cảnh giác Dược tại đơn vị, luận văn đưa ra 4 giải pháp trọng tâm:

  1. Thiết lập quy chế trách nhiệm và triển khai phần mềm báo cáo trực tuyến nội bộ: Ban Giám đốc và Hội đồng Thuốc và Điều trị cần ban hành văn bản quy định rõ nghĩa vụ báo cáo biến cố thuốc của bác sĩ điều trị, xóa bỏ tâm lý báo cáo mang tính quy kết trách nhiệm. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ báo cáo trực tiếp từ khối bác sĩ từ mức 0% hiện nay lên ít nhất 30% tổng số báo cáo trong vòng 6 tháng kể từ khi hệ thống số hóa đi vào vận hành.
  2. Kiện toàn hệ thống biểu mẫu chuyên biệt và kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia: Khoa Dược chủ trì việc bổ sung toàn diện các biểu mẫu báo cáo sai sót liên quan đến thuốc, báo cáo thất bại điều trị và biểu mẫu đơn giản hóa dành cho người bệnh trước quý IV năm 2017. Giải pháp này hướng tới việc nâng điểm đánh giá IPAT ở nhóm chỉ số biểu mẫu từ mức 18,2% lên trên 75% trong vòng 12 tháng, đồng thời thiết lập kênh truyền dữ liệu trực tuyến hai chiều với Trung tâm DI&ADR Quốc gia.
  3. Tăng cường giám sát chủ động đối với nhóm thuốc nguy cơ cao: Dược sĩ lâm sàng cần phối hợp chặt chẽ với điều dưỡng các khoa lâm sàng xây dựng danh mục theo dõi đặc biệt đối với Streptomycin, Pyrazinamid và các kháng sinh nhóm cephalosporin. Cần triển khai xét nghiệm cận lâm sàng định kỳ về chức năng gan, thận và thính lực đồ cho 100% bệnh nhân điều trị phác đồ lao có Streptomycin, giảm tỷ lệ phản ứng có hại mức độ nghiêm trọng không được can thiệp kịp thời xuống dưới 5% trong năm 2018.
  4. Triển khai các khóa đào tạo liên tục (CME) và truyền thông an toàn thuốc: Phòng Kế hoạch tổng hợp phối hợp cùng Trung tâm DI&ADR Quốc gia tổ chức tập huấn định kỳ 6 tháng một lần về kỹ năng nhận diện phản ứng cận lâm sàng và quy tắc điền 4 trường thông tin tối thiểu. Phấn đấu 100% nhân viên y tế tại các khoa nội trú hoàn thành khóa đào tạo trong vòng 9 tháng, nâng điểm chất lượng báo cáo trung bình toàn viện từ 0,80 lên trên 0,90.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Lãnh đạo bệnh viện và Hội đồng Thuốc và Điều trị: Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm để tái thiết kế quy trình giám sát an toàn thuốc nội viện, phân bổ nguồn kinh phí chuyên biệt cho Cảnh giác Dược và xây dựng tiêu chí thi đua chuyên môn không xử phạt nhằm khuyến khích văn hóa báo cáo sự cố y khoa.
  2. Dược sĩ lâm sàng và cán bộ Khoa Dược tại các bệnh viện chuyên khoa hô hấp: Luận văn là cẩm nang thực hành chi tiết giúp dược sĩ nhận diện các cặp thuốc - biến cố có tần suất cao như Streptomycin và các kháng sinh nhóm betalactam, từ đó chủ động can thiệp hội chẩn, thẩm định liều và nâng cao chất lượng phản hồi thông tin thuốc tới bác sĩ điều trị.
  3. Bác sĩ điều trị và Điều dưỡng viên tại các cơ sở điều trị bệnh nhân nội trú: Công trình giúp đội ngũ trực tiếp chăm sóc nắm vững 4 trường dữ liệu cốt lõi của một báo cáo đạt chuẩn, xóa bỏ các rào cản tâm lý e ngại pháp lý và nâng cao độ nhạy lâm sàng đối với các phản ứng có hại ngoài biểu hiện trên da.
  4. Giảng viên, học viên sau đại học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Dược lý - Dược lâm sàng: Luận văn cung cấp khung phương pháp luận chuẩn xác trong việc ứng dụng công cụ IPAT và bộ thuật ngữ WHO-ART/ATC để thiết kế các đề tài nghiên cứu dịch tễ học dược và đánh giá chính sách y tế tại tuyến cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao bác sĩ tại Bệnh viện Phổi Bắc Giang không tham gia viết báo cáo phản ứng có hại trong suốt 6 năm? Nguyên nhân chủ yếu do bác sĩ chịu áp lực lớn về thời gian khám chữa bệnh, e ngại việc báo cáo sẽ kéo theo các rào cản pháp lý hoặc quy kết trách nhiệm cá nhân. Đồng thời, tồn tại quan niệm hành chính cho rằng việc ghi chép biểu mẫu thuộc phận sự của điều dưỡng viên và dược sĩ.

  2. Hoạt chất nào ghi nhận tỷ lệ phản ứng bất lợi cao nhất và biểu hiện lâm sàng đặc trưng là gì? Streptomycin chiếm tỷ lệ cao nhất với 33,4% (190 báo cáo trong tổng số 569 ca). Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất gắn liền với hoạt chất này là phản ứng ngứa ngoài da chiếm 20,0% và phản ứng mẩn đỏ kích ứng tại vị trí tiêm bắp chiếm 8,1%.

  3. Đánh giá theo bộ công cụ IPAT chỉ ra điểm yếu lớn nhất của bệnh viện nằm ở khâu nào? Điểm yếu lớn nhất thuộc về hệ thống biểu mẫu chuyên biệt khi chỉ đạt 18,2% điểm tối đa. Bệnh viện hoàn toàn chưa triển khai các mẫu phiếu ghi nhận sai sót thuốc, báo cáo chất lượng thuốc, thất bại điều trị và chưa có cơ chế tiếp nhận phản ánh trực tiếp từ bệnh nhân.

  4. Chất lượng của các báo cáo phản ứng có hại tại bệnh viện chuyển biến như thế nào qua các năm? Chất lượng báo cáo có sự tiến bộ rõ rệt với điểm trung bình đạt 0,80 trên thang điểm 1. Nhóm các báo cáo chất lượng kém (dưới 0,8 điểm) đã giảm mạnh từ mức 61,0% vào năm 2011 xuống chỉ còn 30,6% vào năm 2016 nhờ việc phổ biến mẫu báo cáo chuẩn của Bộ Y tế.

  5. Những trường thông tin tối thiểu bắt buộc phải có để một báo cáo phản ứng có hại được coi là hợp lệ? Theo quy định của Bộ Y tế, một báo cáo hợp lệ bắt buộc phải chứa đủ 4 trường thông tin: thông tin người bệnh (tuổi, giới tính), thông tin về phản ứng có hại (mô tả biểu hiện, thời gian xuất hiện), thông tin về thuốc nghi ngờ (tên hoạt chất, liều dùng, đường dùng) và thông tin về người báo cáo.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện 569 báo cáo phản ứng có hại trong giai đoạn 2011 đến 2016, ghi nhận sự gia tăng về số lượng từ 82 ca lên 109 ca cùng mức cải thiện chất lượng rõ rệt khi tỷ lệ báo cáo dưới 0,8 điểm giảm từ 61,0% xuống 30,6%.
  • Hoạt động giám sát ghi nhận sự mất cân đối sâu sắc về nguồn nhân lực báo cáo khi điều dưỡng viên chiếm 82%, dược sĩ chiếm 18% và bác sĩ hoàn toàn không tham gia (0%).
  • Thuốc điều trị lao chiếm tỷ trọng chi phối với 66,3% tổng số biến cố, trong đó Streptomycin là hoạt chất nghi ngờ hàng đầu (33,4%), gây ra tổn thương da và mô dưới da chiếm tới 70,0% các trường hợp.
  • Đánh giá theo khung IPAT chỉ ra hệ thống cơ sở vật chất và nhân lực đạt điểm cao trên 84%, nhưng công tác quản lý biểu mẫu (18,2%) và truyền thông Cảnh giác Dược (27,3%) vẫn là những điểm nghẽn nghiêm trọng cần tháo gỡ.
  • Đóng góp cốt lõi của nghiên cứu là cung cấp bằng chứng thực tiễn khách quan về mô hình dịch tễ biến cố thuốc tại bệnh viện chuyên khoa hạng III, tạo tiền đề để triển khai lộ trình can thiệp số hóa quy trình báo cáo và đào tạo định kỳ trong giai đoạn tiếp theo.

Các cơ sở y tế chuyên khoa cần chủ động triển khai ngay hệ thống báo cáo trực tuyến nội viện, chuẩn hóa quy trình phân tích tín hiệu an toàn thuốc và nhân rộng văn hóa Cảnh giác Dược không xử phạt nhằm đảm bảo an toàn tối đa cho tính mạng người bệnh.