Chương 1: Một số vấn đề chung về thuế chống trợ cấp và quy định của WTO về thuế chống trợ cấp. Chương 2: Kinh nghiệm áp dụng thuế chống trợ cấp của một số nước thành viên của WTO. Một số gợi ý cho việc áp dụng thuế chống trợ cấp ở Việt Nam. 5 z CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP VÀ QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ THUẾ CHỐNG TRỢ CẤP 1.
Khái niệm và tác động của thuế chống trợ cấp 1.1 Khái niệm và phân loại trợ cấp 1.1 Khái niệm về trợ cấp Trợ cấp là một công cụ chình sách được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở hầu hết các nước nhằm đạt các mục tiêu của chình phủ về kinh tế – xã hội – chình trị, v. Tuy nhiên, việc đi đến một khái niệm tương đối chình xác và thống nhất về “trợ cấp” là một chủ đề gây tranh cãi không chỉ giữa các quốc gia mà còn giữa các học giả. Theo định nghĩa của Từ điển Oxford dành cho giới kinh doanh (Nhà xuất bản Đại học Oxford 1994), “trợ cấp là khoản tiền do nhà nước cấp cho các nhà sản xuất một số hàng hóa nhất định để giúp họ có thể bán các hàng hóa đó cho dân chúng với giá thấp, để cạnh tranh với các nhà sản xuất nước ngoài, để tránh hàng tồn đọng thừa ế và tránh tạo ra thất nghiệp, v.1] Định nghĩa của các nhà kinh tế về trợ cấp khá đơn giản. Chẳng hạn Roger N.Waud trong “Kinh tế học vi mô” tái bản lần thứ ba của Nhà xuất bản Harper & Row, 1986 khi xem xét mối quan hệ giữa trợ cấp với độ co giãn cung cầu đã định nghĩa rằng trợ cấp là “một khoản tiền mà chình phủ trả cho một nhà cung cấp tình theo mỗi đơn vị hàng hóa được sản xuất” và “trợ cấp thường có tác động làm cho giá hàng hóa liên quan giảm xuống và lượng cung hàng hóa đó tăng lên; mức độ giảm giá và tăng lượng phụ thuộc vào độ co giãn của đường cung và cầu tương ứng”.2)] Cũng có học giả nhín nhận trợ cấp là sự can thiệp vào quá trính định giá của thị trường tự do và làm sai lệch các lợi thế so sánh của các đối tượng tham gia thị trường.
Trợ cấp tạo ra sự chênh lệch giữa chi phì cần thiết để sản xuất hàng hóa với chi phì thực tế mà nhà sản xuất phải bỏ ra. Sản phẩm được trợ 6 z cấp trở nên rẻ hơn trong khi các sản phẩm cạnh tranh sẽ đắt hơn một cách giả tạo. Theo Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO (Hiệp định SCM), một biện pháp được coi là trợ cấp nếu thỏa mãn đủ hai điều kiện sau: là một khoản đóng góp về tài chình do chình phủ hoặc một tổ chức nhà nước/công (public body) cung cấp; hoặc là một khoản hỗ trợ thu nhập hoặc hỗ trợ giá; và mang lại lợi ìch cho đối tượng nhận trợ cấp. Như vậy, trợ cấp của chình phủ là một công cụ trực tiếp tái phân phối nguồn thu ngân sách của chình phủ cho một số đối tượng.
Trợ cấp có thể dưới dạng cho vay, xoá nợ, hoàn hoặc miễn thuế. Trong một số trường hợp khác, chình phủ không nhất thiết phải trìch từ nguồn thu ngân sách của mính để trợ cấp mà có thể thông qua công cụ luật pháp để hướng nguồn lực từ nhóm đối tượng này chuyển sang cho nhóm đối tượng khác, cụ thể ở đây là làm lợi cho nhà sản xuất bằng tiền từ túi người tiêu dùng thông qua việc hỗ trợ giá. Do các quy định của WTO về trợ cấp và các biện pháp đối kháng cho đến nay là khung pháp lý đa phương được phần lớn các nước nhất trì thông qua và áp dụng làm căn cứ cho nguồn nội luật của mính, nghiên cứu này sẽ thống nhất sử dụng các khái niệm và định nghĩa trong Hiệp định SCM của WTO làm cơ sở nền tảng cho các phân tìch và lý luận về sau. Phân loại trợ cấp Hiệp định SCM chia trợ cấp thành 3 dạng dựa trên mức độ ảnh hưởng đến thương mại của chúng: Trợ cấp đèn đỏ, trợ cấp đèn vàng và trợ cấp đèn xanh.
Trợ cấp bị cấm (trợ cấp đèn đỏ) bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp khuyến khìch sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu. Hai dạng trợ 7 z cấp này bị cấm sử dụng ví tác động tiêu cực tới thương mại và ảnh hưởng bất lợi đến lợi ìch của các nước thành viên WTO khác. Trợ cấp xuất khẩu hiểu theo nghĩa thông thường là trợ cấp chỉ dành riêng cho hoặc liên quan tới hoạt động xuất khẩu, hay mục đìch của trợ cấp là đẩy mạnh xuất khẩu. Do đó, căn cứ để trợ cấp thông thường là lượng hàng hóa xuất khẩu thực sự hoặc dự kiến xuất khẩu.
Vì dụ: chương trính thưởng xuất khẩu của Chình phủ theo đó doanh nghiệp được thưởng 100 đồng cho mỗi sản phẩm xuất khẩu được. Tuy nhiên, việc chình phủ đơn thuần trợ cấp cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu không thể nghiễm nhiên dẫn đến kết luận là trợ cấp xuất khẩu mà còn cần xem xét đến một số yếu tố khác. Trợ cấp xuất khẩu thường có hệ quả là hàng xuất khẩu được bán trên thị trường nước ngoài với giá thấp hơn trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu.1: Danh mục minh hoạ các biện pháp trợ cấp xuất khẩu theo Hiệp định SCM a. Trợ cấp trực tiếp dựa trên kết quả xuất khẩu.
Thưởng xuất khẩu. Phì vận chuyển nội địa ưu đãi hơn đối với hàng xuất khẩu. Cung cấp đầu vào được trợ cấp để sử dụng cho sản xuất hàng xuất khẩu. Miễn, hoàn hoặc cho phép nộp chậm toàn bộ hoặc một phần các khoản thuế trực thu hoặc các khoản phì phúc lợi xã hội liên quan riêng tới hoạt động xuất khẩu.
Cho hưởng các mức khấu trừ đặc biệt liên quan trực tiếp tới hàng xuất khẩu hoặc tới kết quả xuất khẩu khi tình thu nhập chịu thuế trực thu ở mức cao hơn mức khấu trừ áp dụng đối với sản xuất để tiêu thụ nội địa, 8 z g. Miễn, hoặc hoàn thuế gián thu liên quan đến sản xuất và phân phối hàng xuất khẩu vượt quá phần thuế gián thu áp dụng đối với hàng hoá tương tự được tiêu thụ nội địa. Miễn, hoàn hoặc cho phép nộp chậm thuế gián thu vượt quá phần thuế thực tế đánh vào các sản phẩm đầu vào được tiêu thụ trong quá trính sản xuất hàng xuất khẩu. Mức hoàn thuế và phì nhập khẩu vượt quá mức thuế và phì nhập khẩu đánh vào các sản phẩm đầu vào nhập khẩu được tiêu thụ trong quá trính sản xuất hàng xuất khẩu (có tình đến hao phì thông thường).
Bảo lãnh xuất khẩu với mức phì không đủ bù đắp chi phì. Cấp tìn dụng xuất khẩu với lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất đi vay. Bất kỳ khoản chi nào khác từ ngân sách Nhà nước là trợ cấp xuất khẩu theo nghĩa của Điều XVI GATT 1994. (Nguồn: Bộ Thương Mại (2000), Kết quả vòng đàm phán Uruguay về hệ thống thương mại đa biên, NXB Thông kê, Tr.347-350) Trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội địa thay thế hàng nhập khẩu (hay còn được gọi là trợ cấp thay thế nhập khẩu) là trợ cấp phụ thuộc hoàn toàn hoặc một phần vào việc sử dụng hàng sản xuất trong nước so với hàng nhập khẩu.
Vì dụ các doanh nghiệp lắp ráp ô tô sử dụng phụ tùng, linh kiện sản xuất trong nước chiếm ìt nhất 60% giá trị ô tô thành phẩm được hưởng ưu đãi thuế. Nhiều trường hợp các nước còn sử dụng kết hợp cả hai dạng trợ cấp bị cấm này, như trợ cấp 60 USD/tấn bột mỳ xuất khẩu nhằm bù đắp lại việc công ty phải chấp nhận chỉ sử dụng lúa mỳ trong nước với giá cao hơn thông thường để sản xuất bột mỳ. Trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện (trợ cấp đèn vàng) là trợ cấp có khả năng bị khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hoặc có thể bị đánh thuế chống trợ cấp nếu trợ cấp đó gây thiệt hại đối 9 z với nước thành viên WTO khác. Trong mọi trường hợp, nếu một nước muốn áp dụng biện pháp đối kháng chống lại hành vi trợ cấp của nước khác, nước đó phải chứng tỏ được rằng trên thực tế, hành vi của nước khác đúng là trợ cấp theo định nghĩa tại Điều 1 Hiệp định SCM, là trợ cấp riêng theo Điều 2 Hiệp định này, và gây tác động thương mại bất lợi cho nước muốn áp dụng biện pháp đối kháng.
Trợ cấp riêng (hay còn gọi là trợ cấp mang tình riêng biệt) là trợ cấp dành riêng cho một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp cụ thể, hay trợ cấp dành riêng cho một ngành sản xuất hoặc một nhóm ngành sản xuất nhất định. Trợ cấp riêng có 2 loại: trợ cấp riêng theo luật và trợ cấp riêng trên thực tế. Trợ cấp riêng theo luật là trợ cấp mà cơ quan cấp trợ cấp có quy định rõ trong luật hoặc văn bản dưới luật là chỉ dành trợ cấp đó cho một số đối tượng nhất định được hưởng. Chẳng hạn, chương trính cho vay với lãi suất ưu đãi theo luật chỉ dành cho ngành sản xuất thép là một vì dụ về trợ cấp riêng theo luật.
Trợ cấp riêng trên thực tế là trợ cấp mà mặc dù cơ quan cấp trợ cấp (hoặc văn bản pháp lý điều chỉnh việc cấp trợ cấp) không đặt ra điều kiện nào về đối tượng nhận trợ cấp nhưng việc quản lý hoặc áp dụng chương trính trợ cấp đó lại dẫn đến kết quả là một hoặc một vài nhóm đối tượng nhận trợ cấp nhất định được nhận nhiều lợi ìch hơn một cách đáng kể so với các đối tượng khác cùng được nhận trợ cấp. Vì dụ: trợ cấp cho một vùng nhất định tuy có mục đìch công khai là trợ giúp phát triển vùng nhưng thực tế là chỉ trợ cấp cho các nhà máy sản xuất hàng xuất khẩu tại vùng đó trong khi các doanh nghiệp khác không được hoặc nhận được rất ìt trợ cấp. Trợ cấp không bị khiếu kiện (trợ cấp đèn xanh) là trợ cấp không bị khiếu kiện ra cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hay bị đánh thuế chống trợ cấp.