Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẺ NGÂN HÀNG VÀ KINH DOANH THẺ NGÂN HÀNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẺ NGÂN HÀNG 1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển thẻ ngân hàng Thẻ thanh toán là một trong những thành tựu của ngành công nghiệp ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng không phải là người đầu tiên phát hành thẻ.
Thẻ xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1914 khi tổng công ty xăng dầu California cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình. Thẻ chỉ nhằm khuyến khích bán sản phẩm của công ty chứ không kèm theo việc gia hạn tín dụng. Năm 1946, dạng thẻ đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charge-It của ngân hàng John Biggins xuất hiện tại Mỹ, cho phép các khách hàng thực hiện các giao dịch nội địa bằng các phiếu có giá trị do ngân hàng phát hành. Các đại lý nộp các phiếu giao dịch cho ngân hàng Biggins, ngân hàng sẽ thanh toán các giao dịch đó cho các đại lý và thu lại tiền từ các khách hàng.
Thẻ Charge-It đã mở đường cho sự ra đời của thẻ vào năm 1951 do ngân hàng Franklin National, New York phát hành. Tại đây, khách hàng xin cấp hạn mức tín dụng và được thẩm định khả năng thanh toán, tình hình tài chính thông qua hoạt động tín dụng trước đó của họ với ngân hàng. Những khách hàng đủ tiêu chuẩn sẽ được cấp thẻ để thực hiện giao dịch tại các đại lý chấp nhận thẻ. Các cơ sở này khi nhận được giao dịch sẽ liên hệ với ngân hàng, nếu được phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và đòi tiền sau đối với ngân hàng.
Các chủ thẻ phải trả toàn bộ dư nợ vào cuối tháng. Năm 1960, ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ ngân hàng của riêng mình, thẻ Bank Americard, và đã đạt được nhiều thành công vì thế ngày -2- càng có nhiều tổ chức tín dụng tham gia thanh toán và bắt đầu liên kết để cạnh tranh với Bank of America. Năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành tổ chức Interbank (Interbank Card Association-ICA), một tổ chức mới có khả năng trao đổi thông tin các giao dịch thẻ tín dụng. Năm 1967, việc hợp tác của bốn ngân hàng ở California đổi tên từ California Bankcard Association thành Western States Bank Card Association (WSBA) và mở rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía tây nước Mỹ.
Sản phẩm thẻ của tổ chức này là Master Charge. Tuy nhiên, để hình thức thanh toán thẻ có thể thu hút được khách hàng cần phải có một mạng lưới thanh toán lớn trên phạm vi toàn cầu. Đứng trước đòi hỏi đó, InterBank (Master Charge) và Bank of American (Bank Americard) đã xây dựng một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý thanh toán thẻ toàn cầu. Năm 1977, Bank Americard trở thành Visa USA và sau đó trở thành tổ chức thẻ quốc tế Visa.
Năm 1979, Master Charge cũng trở thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn khác là Master Card. Bốn tổ chức thẻ quốc tế lớn nhất hiện nay là Visa, Master Card, Amex, JCB. Với lợi thế về vốn, chuyên môn trong nghiệp vụ thẩm định, cơ sở hạ tầng sẵn có phục vụ cho hoạt động phát hành và thanh toán, thẻ do ngân hàng phát hành thực sự được đông đảo công chúng quan tâm và ưa thích. Trong khoảng thời gian 25 năm trở lại đây, ngành công nghiệp thẻ thanh toán, đặc biệt là thẻ ngân hàng mới thực sự được phát triển.
Khái niệm thẻ ngân hàng Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán do các ngân hàng, các định chế tài chính phát hành để thực hiện các giao dịch thẻ như nạp rút tiền mặt tại các máy, các quầy tự động của ngân hàng, thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc chuyển khoản… [4] -3- Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, thẻ đề cập đến là thẻ do ngân hàng ngân hàng phát hành, gọi tắt là thẻ ngân hàng. Theo quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/05/2007 ban hành Quy chế về phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ thẻ ngân hàng (Phụ lục 2) đã định nghĩa “Thẻ ngân hàng” như sau: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận. Theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ, thẻ bao gồm: thẻ nội địa và thẻ quốc tế. Theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ, thẻ bao gồm: thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước”.
Như vậy, thẻ ngân hàng có những đặc điểm sau đây: ¾ Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. ¾ Thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do NHPH thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hoá dịch vụ tại các điểm cung ứng hàng hoá dịch vụ có hợp đồng thanh toán với ngân hàng, hoặc rút tiền mặt tại các máy giao dịch tự động hay các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc định mức tín dụng được cấp. ¾ Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện nhiều chức năng khác như xem số dư, đặt lệnh chuyển tiền,… thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM. Mô tả kỹ thuật thẻ ngân hàng Thẻ dù do bất cứ tổ chức nào phát hành đều được làm bằng plastic, có 3 lớp ép sát, lõi thẻ được làm bằng nhựa trắng cứng nằm giữa hai lớp tráng mỏng.
Thẻ có -4- kích thước chung theo tiêu chuẩn quốc tế là 96mm x 54mm x 0,76mm, có bốn góc tròn. [4] Vì có chung một tiêu chuẩn như thế, nên các thẻ do các ngân hàng khác nhau phát hành đều có thể sử dụng tại tất cả các máy ATM và máy POS trên khắp thế giới. Trên thẻ phải có đủ các thông tin sau [4]: ¾ Mặt trước của thẻ: − Biểu tượng: Mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng đặc trưng của tổ chức phát hành thẻ. Đây được xem như một đặc tính mang tính an ninh nhằm chống giả mạo.
− Số thẻ: Số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi trên thẻ và được in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ. − Thời gian có hiệu lực của thẻ: Là thời hạn mà thẻ được phép lưu hành. − Họ và tên chủ thẻ: In chữ nổi, là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên của người được uỷ quyền sử dụng nếu là thẻ công ty. − Ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành: Mỗi loại thẻ luôn có ký hiệu an ninh kèm theo in phía sau của ngày hiệu lực.
Ví dụ: Thẻ Visa có chữ V, thẻ MasterCard có chữ M và chữ C lồng vào nhau. ¾ Mặt sau của thẻ: − Dải băng từ có khả năng lưu trữ các thông tin như: số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, NHPH. − Dải băng chữ ký: trên dải băng này phải có chữ ký của chủ thẻ để cơ sở chấp nhận thẻ có thể đối chiếu chữ ký khi thực hiện thanh toán thẻ. Phân loại thẻ ngân hàng 1.
Phân loại theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ ¾ Thẻ tín dụng -5- Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, theo đó chủ thẻ được phép sử dụng một hạn mức tín dụng không phải trả lãi nếu chủ thẻ hoàn trả số tiền đã sử dụng đúng kỳ hạn để mua sắm hàng hoá, dịch vụ đơn vị chấp nhận loại thẻ này. Về bản chất đây là một dịch vụ tín dụng thanh toán với hạn mức chi tiêu nhất định mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng căn cứ vào khả năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của khách hàng. Ngân hàng sẽ ấn định ngày thanh toán cho khách hàng. Nếu chủ thẻ thanh toán toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn, chủ thẻ hoàn toàn được miễn lãi đối với số dư nợ cuối kỳ.
Tuy vậy, nếu hết thời gian này mà một phần hay toàn bộ số dư nợ cuối kỳ chưa được thanh toán cho ngân hàng thì chủ thẻ sẽ phải chịu những khoản phí và lãi chậm trả. Khi toàn bộ số tiền phát sinh được hoàn trả cho ngân hàng, hạn mức tín dụng của chủ thẻ được khôi phục như ban đầu. ¾ Thẻ ghi nợ Thẻ ghi nợ là phương tiện thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hay rút tiền mặt trên cơ sở số tiền có trong tài khoản thanh toán của chính chủ thẻ. Tuỳ theo sự thỏa thuận của chủ thẻ và NHPH, ngân hàng có thể cấp cho chủ thẻ một hạn mức thấu chi.
Với hình thức thấu chi, thẻ ghi nợ đã giúp cho cá nhân, doanh nghiệp được cấp một khoản tín dụng ngắn hạn mà không cần làm nhiều thủ tục. ¾ Thẻ trả trước Tương tự như thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng, thẻ trả trước cho phép thực hiện thanh toán mà không cần tiền mặt hay séc. Thẻ trả trước không kết nối trực tiếp với tài khoản ngân hàng như thẻ ghi nợ, cũng không xài trước trả sau như thẻ tín dụng. Thẻ trả trước không có giá trị nào cho đến khi người dùng cho tiền vào thẻ, chỉ sử dụng đúng với số tiền có trong thẻ.
Phân loại theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ ¾ Thẻ trong nước -6- Là loại thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền được sử dụng trong giao dịch mua bán hàng hoá hay rút tiền mặt phải là đồng bản tệ của quốc gia đó. Loại thẻ này cũng có công dụng như những loại thẻ trên nhưng hoạt động của nó đơn giản hơn bởi nó chỉ do một tổ chức hay do một ngân hàng điều hành từ việc tổ chức phát hành đến xử lý trung gian, thanh toán và việc sử dụng thẻ bị giới hạn trong phạm vi một quốc gia. ¾ Thẻ quốc tế Là loại thẻ không chỉ dùng tại quốc gia nó được phát hành mà còn dùng được trên phạm vi quốc tế. Muốn phát hành loại thẻ này thì NHPH phải là thành viên của Tổ chức phát hành thẻ quốc tế.
Lợi ích và hiệu quả của việc sử dụng thẻ ngân hàng 1.