CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm doanh nghiệp Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các nước phát triển đều thấy rõ vai trò và vị trí của các doanh nghiệp trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của mình. Tuy nhiên, chưa có một khái niệm thống nhất cho các nước về doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một phạm trù không chỉ phản ánh quy mô của tổ chức mà còn bao hàm cả nội dung tổng thể về kinh tế, tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý, lĩnh vực, ngành nghề hoạt động. Doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm mục đích kiếm lợi nhuận. Theo định nghĩa của Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì doanh nghiệp được định nghĩa là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Khái niệm cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Theo đó, cho vay doanh nghiệp được hiểu là hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho đối tượng khách hàng là doanh nghiệp. Phân loại cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại a. Theo thời hạn cho vay Theo căn cứ phân loại này, hoạt động cho vay doanh nghiệp có thể phân thành các loại sau: - Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm, nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động. - Cho vay trung hạn là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm, nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.
- Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào các dự án đầu tư. Theo mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp vay vốn Theo căn cứ phân loại này, hoạt động cho vay doanh nghiệp có thể phân thành các loại sau: - Cho vay bất động sản là khoản cho vay để mua sắm và xây dựng nhà ở, đất đai hay bất động sản trong lĩnh vực thương mại, công nghiệp, dịch vụ. - Cho vay công nghiệp và thương mại thường là khoản cho vay bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp. - Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất trong ngành nông nghiệp.
- Cho vay các định chế tài chính như các ngân hàng khác, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng, và các định chế tài chính khác. - Cho vay cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, mua sắm thường ngày. - Cho thuê bao gồm cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê thường là bất động sản và động sản chủ yếu là máy móc thiết bị.
Theo hình thức đảm bảo tiền vay Theo căn cứ phân loại này, hoạt động cho vay doanh nghiệp có thể phân thành các loại sau: - Cho vay có bảo đảm là loại cho vay được cấp phát trên cơ sở có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba. - Cho vay không có bảo đảm là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba mà là dựa trên uy tín của chính khách hàng hay còn gọi là tín chấp. Theo phương thức cho vay Theo căn cứ phân loại này, hoạt động cho vay doanh nghiệp có thể phân thành các loại sau: - Cho vay từng lần là mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. - Cho vay theo hạn mức tín dụng là tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
- Cho vay theo dự án đầu tư là tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. - Cho vay hợp vốn là một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. - Cho vay trả góp là khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Luan van 10 - Cho vay theo hạn mức thấu chi là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng.
Đặc điểm và vai trò cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại a. Đặc điểm của cho vay doanh nghiệp Cho vay doanh nghiệp cũng là một hoạt động vay vốn của Ngân hàng, cũng mang những đặc điểm chung của một hoạt động cho vay, tuy nhiên cũng có những đặc điểm khác với hoạt động cho vay cá nhân, cụ thể: - Cho vay doanh nghiệp là cho vay vốn phục vụ hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh. Khác hẳn với cho vay cá nhân chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của đời sống xã hội, cho vay doanh nghiệp lại hướng tới phục vụ hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh của nền kinh tế. Điều này xuất phát từ mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế, là tìm kiếm lợi nhuận và để đạt mục đích này thì các doanh nghiệp cần đến nguồn vốn vay của ngân hàng để đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, qua đó gia tăng thị phần cũng như lợi nhuận kỳ vọng.
- Đối tượng cho vay doanh nghiệp là tất cả các DN hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hoạt động theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, DN có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã, các cơ sở kinh doanh là chi nhánh, cửa hàng, cửa hiệu (thuộc công ty hoặc chi nhánh), hộ kinh doanh cá thể có đăng ký kinh doanh theo quy định của Chính Phủ. - Nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp rất đa dạng; thể hiện qua nhiều kỳ hạn vay vốn: cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; hình thức vay vốn cũng Luan van 11 khá đa dạng: cho vay vốn lưu động, cho vay vốn theo dự án, vay vốn theo công trình xây dựng… - Quy mô các khoản vay doanh nghiệp thường lớn và cao hơn các khoản vay cá nhân, hộ gia đình. Nhu cầu vốn cho quá trình sản xuất, xây dựng nhà xưởng, mua nguyên vật liệu, thuê nhân công, vận hành thiết bị… lớn. Do đó ngoài nguồn vốn tự có giới hạn, các DN cần tìm thêm nguồn tài trợ khác mà trong đó ngân hàng là một kênh rất quan trọng và được DN nghĩ đến đầu tiên khi thiếu vốn.
Vì vậy DN luôn là những đối tượng khách hàng tiềm năng cần được các ngân hàng quan tâm triệt để. - Doanh nghiệp hoạt động theo quy định của pháp luật nên các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được phản ánh ghi chép đầy đủ và rõ ràng. Thông tin tài chính của doanh nghiệp vay vốn được thể hiện rõ ràng qua báo cáo tài chính, qua đó giúp cho NHTM dễ dàng giám sát được các hoạt động của DN. Hơn nữa hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp cũng rất rõ ràng nên NHTM cũng không quá khó để đánh giá tư cách pháp lý của doanh nghiệp và những người liên quan.
- Công tác thẩm định và kiểm soát rủi ro trong quá trình cho vay doanh nghiệp khá phức tạp. Bởi cho vay doanh nghiệp là những khoản vay có giá trị lớn và nguồn trả nợ chủ yếu từ hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh hay dự án đầu tư. Vậy nên, các ngân hàng ngoài việc thẩm định kỹ năng lực tài chính cũng như uy tín của DN vay vốn thì cần phải thẩm định kỹ phương án/dự án đầu tư, thẩm định chính xác dòng tiền dự án… Bên cạnh đó, công tác kiểm soát rủi ro trong cho vay doanh nghiệp cũng khá phức tạp bởi thị trường hoạt động của các doanh nghiệp rộng lớn, nhất là đối với các doanh nghiệp đa ngành nghề. Vai trò của cho vay doanh nghiệp ª Đối với doanh nghiệp vay vốn Luan van 12 - Cho vay doanh nghiệp là công cụ tập trung vốn và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp phát triển ổn định.
Trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì yêu cầu mở rộng sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu đối với các DN là một tất yếu khách quan. Nhưng với đa số các DN trên thị trường, nguồn vốn tự có từ lợi nhuận thu được và sự góp vốn từ chủ sở hữu rất hạn hẹp, do đó họ luôn luôn tìm kiếm các nguồn hỗ trợ vốn để việc thực hiện tái sản xuất được nhanh chóng. Với tư cách là trung gian tín dụng, các NHTM có vai trò quan trọng trong việc tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để đáp ứng cho DN thực hiện tái sản xuất hoặc để bù đắp thiếu hụt nguồn vốn. - Cho vay doanh nghiệp góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Trong điều kiện hội nhập kinh tế buộc các DN phải nâng cao khả năng cạnh tranh để đủ sức đứng vững trên thị trường.
Nhưng do trình độ quản lý còn yếu, năng lực tài chính hạn chế, năng suất lao động chưa cao, chưa xây dựng được thương hiệu mạnh đã khiến cho năng lực cạnh tranh của các DN còn hạn chế. Để tăng tính cạnh tranh của các DN cần nâng cao năng lực quản lý của lãnh đạo, đổi mới trang thiết bị, có chiến lược marketing phù hợp; nhưng để làm được điều đó cần có vốn. Trong khi đó vốn tự có là có hạn và khả năng tích lũy của DN thấp buộc các DN phải tìm đến các tổ chức tín dụng.