CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ a. Lịch sử phát triển của hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ nói chung Khái niệm “kiểm soát nội bộ” xuất hiện từ những năm cuối của thế kỷ thứ 19, khi đó NH là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế.
Để có thể cung cấp vốn, NH cần có những thông tin chính xác trên báo cáo tài chính. Các kiểm toán viên đã sớm nhận thức rằng chỉ cần chọn mẫu các nghiệp vụ kế toán để kiểm tra tính chính xác của báo cáo tài chính và dựa vào sự tin tưởng vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán. Vì vậy các kiểm toán viên bắt đầu quan tâm đến “kiểm soát nội bộ”. Đầu tiên, “kiểm soát nội bộ” được xem như là kiểm soát tiền và kiểm tra thông tin về sử dụng vốn.
Đến năm 1929, Cục dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã định nghĩa kiểm soát nội bộ là một công cụ để bảo vệ tiền và tài sản khác, đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động, và đây là cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu của kiểm toán viên. Năm 1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA- American Institue of Certified Public Accountants) đã định nghĩa kiểm soát nội bộ là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trog một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách. Năm 1949, AICPA đã định nghĩa: Kiểm soát nội bộ là:”…cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài Luan van 7 sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý”. Sau đó, AICPA đã soạn thảo và ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của kiểm soát nội bộ: - Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP- Committee on Auditing Procedure) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán 29 (SAP- Statement on Auditing Procedure) về “Phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toán viên độc lập”, trong đó lần đầu phân biệt kiểm soát nội bộ về quản lý và kiểm soát nội bộ về kế toán.
- Năm 1972, CAP tiếp tục ban hành SAP 54 (1972) “Tìm hiểu và đánh giá kiểm soát nội bộ” trong đó đưa ra bốn thủ tục kiểm soát kế toán, đó là đảm bảo nghiệp vụ chỉ được thực hiện khi đã được phê chuẩn, ghi nhận đúng đắn mọi nghiệp vụ để lập báo cáo, hạn chế sự tiếp cận tài sản và kiểm kê. Như vậy, từ những năm cuối thế kỷ 19 cho đến năm 1972, khái niệm kiểm soát nội bộ đã không ngừng được mở rộng ra khỏi thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Trước khi báo cáo COSO (1992) ra đời, kiểm soát nội bộ chỉ mới dừng lại như là một phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính. Đến thập niên 1970-1980, nền kinh tế của Hoa Kỳ và các nước trên thế giới phát triển mạnh mẽ, đồng thời các vụ gian lận về tài chính và báo cáo tài chính ngày càng tăng, quy mô càng lớn và gây tổn thất đáng kể cho nền kinh tế.
Trước tình hình đó, SEC đưa ra bắt buộc các công ty phải báo cáo về kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở đơn vị mình (1979). Yêu cầu về báo cáo kiểm soát nội bộ của công ty cho công chúng là một chủ đề gây nhiều tranh luận. Một trong những quan điểm chống đối là thiếu các tiêu chuẩn để đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ. Trước tình hình đó, cần phải có một tổ chức để nghiên cứu về kiểm soát nội bộ, Luan van 8 nhằm thống nhất định nghĩa về kiểm soát nội bộ để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng phục vụ khác nhau, đưa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị có thể xây dựng hệ thống kiểm soát một cách hữu hiệu, và đưa ra những hướng dẫn nhằm giảm đi sự khác biệt về quan điểm.
Một tổ chức được thành lập để đáp ứng yêu cầu đó là, Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trên báo cáo tài chính, tên viết tắt là Ủy ban COSO hay còn gọi là Ủy ban Treadway. Ủy ban COSO được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức nghề nghiệp, đó là: Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA- American Accounting Association), Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI- Financial Executives Institute), Hiệp hội Kế toán viên Quản trị (IMA- Institute of Management Accountants), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA- Institute of Internal Auditors). Trước tiên, COSO đã sử dụng chính thức từ kiểm soát nội bộ thay vì kiểm soát nội bộ về kế toán. Sau đó, AICPA cũng chính thức không sử dụng thuật ngữ kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý.
Đến năm 1988, nhiều chuẩn mực kiểm toán ra đời, trong đó có SAS 55. SAS 55 đưa ra ba bộ phận của kiểm soát nội bộ là: Môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát. Đây cũng là cách tiếp cận của một số luận văn thạc sỹ về kiểm soát nội bộ trước đây. Năm 1992, COSO đã phát hành báo cáo Khuôn mẫu lý thuyết về kiểm soát nội bộ hay còn gọi là báo cáo của COSO 1992.
Đây là tài liệu về kiểm soát nội bộ tương đối hoàn chỉnh và được nhiều nước trên thế giới sử dụng. Những điểm nổi bậc nhất của hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ theo Báo cáo của COSO 1992 so với các lý luận trước đây - Báo cáo của COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống. Luan van 9 - Đặc điểm nổi bậc của báo cáo này là cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó kiểm soát nội bộ không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà còn được mở rộng ra cho các phương diện hoạt động và tuân thủ. - Báo cáo của COSO nhấn mạnh tính quản trị và quản trị rủi ro trong hệ thống kiểm soát nội bộ và đưa ra năm bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ, đó là: Môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông; giám sát.
Quan điểm của Ủy ban COSO hoàn toàn khác với các quan điểm trước đây và quan điểm của SAS 55. Quan điểm của SAS 55 chỉ đưa ra ba bộ phận của kiểm soát nội bộ là: Môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát; mà không đề cập đến tính quản trị và quản trị rủi ro. - Ủy ban COSO đã đề cập đến yếu tố đánh giá rủi ro và hoạt động kiểm soát. Đánh giá rủi ro tức là việc nhận dạng, phân tích và quản lý các rủi ro có thể đe dọa đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức.
Còn hoạt động kiểm soát không chỉ bao gồm các chính sách và thủ tục kiểm soát mà còn nhấn mạnh hoạt động kiểm soát diễn ra trong toàn bộ tổ chức ở mọi cấp độ và mọi hoạt động. - Báo cáo COSO 1992 yêu cầu thực hiện giám sát định kỳ để phát hiện ra những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ bằng cách yêu cầu toàn thể cán bộ trong tổ chức tham gia thảo luận hoặc trả lời bảng câu hỏi. Các quan điểm trước đây về kiểm soát nội bộ chưa đề cập đến nội dung này. Với tính đầy đủ, có hệ thống và phù hợp với tình hình phát triển của xã hội, tác giả đã lựa chọn sử dụng hệ thống lý thuyết về kiểm soát nội bộ theo báo cáo COSO 1992 để làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu của mình.
Nội dung của kiểm soát nội bộ theo Báo cáo của COSO 1992 [13] - Khái niệm: Luan van 10 Báo cáo của COSO 1992 đã định nghĩa về kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: + Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động. + Sự tin cậy của báo cáo tài chính. + Sự tuân thủ pháp luật và các quy định.” - Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ: Theo báo cáo của COSO về Khuôn mẫu hệ thống kiểm soát nội bộ có đề cập đến 5 yếu tố chính của hệ thống kiểm soát nội bộ. Đó là: Môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông; giám sát.1: Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ [13] Bộ phận Nội dung chủ yếu Các nhân tố Tạo ra các sắc thái chung - Tính chính trực, giá trị đạo đức của một tổ chức; chi phối và trình độ chuyên môn của HĐQT, đến ý thức kiểm soát của Ban Kiểm soát và toàn thể cán bộ mọi người trong tổ chức; của một tổ chức.
Môi là nền tảng cho mọi bộ - Triết lý quản lý và phong cách trường phận khác của kiểm soát điều hành của ban lãnh đạo. kiểm nội bộ. - Cơ cấu tổ chức, phân định quyền soát hạn và trách nhiệm của mỗi bộ phận. - Chính sách về nhân sự: chính sách tuyển dụng, khen thưởng, chế tài,… Đánh giá Đánh giá rủi ro là việc - Thiết lập mục tiêu của đơn vị: rủi ro nhận dạng, phân tích và Là điều kiện tiên quyết để kiểm soát Luan van 11 quản lý các rủi ro có thể nội bộ hữu hiệu.
đe dọa đến việc đạt được - Nhận dạng rủi ro: Là một quá mục tiêu của tổ chức. trình lặp đi lặp lại và thường nằm Đơn vị phải nhận biết và trong kế hoạch của một đơn vị. Rủi đối phó với các rủi ro ro được nhận dạng ở mức độ toàn bằng cách thiết lập mục đơn vị hay rủi ro chỉ ở một bộ phận tiêu của tổ chức và hình hay một hoạt động nào đó.