đặt vấn đề vì sao lại thực hiện nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, và kết cấu luận văn nghiên cứu. Chương II. Tổng quan lý thuyết nghiên cứu. Chương này giới thiệu các lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu, các khái niệm về hộ gia đình, đặc điểm và vai trò của hộ gia đình.
Khái niệm tín dụng, phân loại tín dụng, đặc biệt là tín dụng chính thức, vai trò của tín dụng với phát triển kinh tế hộ gia đình. Khảo lược các nghiên cứu trong nước và nước ngoài có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Chương III. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu.
Chương này trình bày nguồn dữ liệu, cách chọn mẫu nghiên cứu, giả thuyết về sự ảnh hưởng của một số biến và mô hình nghiên cứu thực hiện. Chương IV. Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này trình bày những nội dung, kết quả mà mô hình nghiên cứu áp dụng.
Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này trình bày những kết quả mà nghiên cứu đạt được, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách giúp hộ gia đình có thể tiếp cận được nguồn vốn tín dụng chính thức một cách dễ dàng hơn, sử dụng vốn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 hiệu quả hơn. Nêu ra hạn chế của đề tài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2. LÝ THUYẾT HỘ GIA ĐÌNH 2. Khái niệm hộ gia đình Theo lịch sử kinh tế Việt Nam, hộ là một cơ sở kinh tế có các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu gia đình, sử dụng sức lao động của gia đình để sản xuất và thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn Theo Wikipedia, hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung. Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung.
Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhânhoặc cả hai. Tại điều 106 của Bộ luật dân sự 2005 quy định, hộ gia đình là các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này. Hộ gia đình còn là đơn vị kinh tế nhỏ nhất trong xã hội, còn được gọi là tế bào của xã hội. Đặc điểm hộ gia đình Theo Nguyễn Ngọc Sơn (2012), hộ gia đình có các đặc điểm sau: - Không có tư cách pháp nhân: Căn cứ điều 84 của Bộ luật dân sự, tổ chức có tư cách pháp nhân phải đảm bảo 4 điều kiện: Thành lập hợp pháp; Cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; Nhân danh bản thân tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Hộ gia đình thường hình thành tự nhiên TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 theo tập quán của từng vùng miền, các thành viên quan hệ với nhau chủ yếu theo quan hệ huyết thống, các thành viên trực tiếp đứng ra tổ chức sản xuất đồng thời cũng là lao động chính. Tuỳ điều kiện cụ thể, họ có thể thuê mướn thêm lao động. - Kinh tế hộ là hình thức kinh doanh có quy mô nhỏ: Theo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP thì kinh tế hộ chỉ được sử dụng tối đa không vượt quá 10 lao động và chỉ được kinh doanh tại một địa điểm. Kinh tế hộ gia đình có trình độ sản xuất giản đơn, quy mô kinh doanh nhỏ lẻ, lực lượng lao động ít ỏi, làm việc chủ yếu theo kinh nghiệm là chính.
- Tính bền vững của kinh tế hộ không cao: Đối tượng sản xuất của hộ gia đình khá đa dạng, thường theo truyền thống ngành nghề gia đình, địa phương, tập quán vùng miền. Chi phí sản xuất thường thấp, vốn đầu tư có thể rải đều trong quá trình sản xuất, và thường phát sinh theo thời vụ, không ổn định dẫn đến tình trạng thiếu vốn, quá trình kinh doanh dễ bị ngưng trệ, vì đó tính bền vững của kinh tế hộ là không cao. - Không phân biệt được giữa lao động của chủ hộ và người lao động làm thuê: Kinh tế hộ gia đình được hình thành theo một cách thức tổ chức riêng trong phạm vi gia đình. Các thành viên trong hộ cùng có chung sở hữu các tài sản cũng như kết quả kinh doanh của họ.
Chủ hộ vừa quản lý vừa kiêm luôn làm việc, do đó, khó phân biệt giữa lao động chủ hộ và lao động làm thuê. Vai trò hộ gia đình Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Sơn (2012), cho rằng hộ gia đình có các vai trò sau: - Đóng góp cho nền kinh tế: Kinh tế hộ gia đình của địa bàn thành phố Rạch Giá phát triển mạnh, đạt 34.712 tỷ đồng, trong tổng số 73.273 tỷ đồng, chiếm 47,37% (Niên giám thống kê 2016). Qua TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 số liệu này, có thể thấy kinh tế hộ gia đình đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển chung của nền kinh tế. - Kích thích, thúc đẩy thị trường phát triển: Kinh tế hộ gia đình là một thành phần của nền kinh tế chung, kinh tế hộ gia đình phát triển sẽ là bàn đạp, là động lực để thị trường phát triển.
Đối với thị trường đầu vào, kinh tế hộ tham gia vào thị trường thông qua việc mua nguyên vật liệu, hoặc mua lại của những cơ sở sản xuất khác. Đối với thị trường đầu ra, kinh tế hộ phân phối hàng hoá trực tiếp đến người tiêu dùng, là nơi cung cầu gặp nhau. - Giải quyết việc làm cho người lao động: Ngoài cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước, ngày càng nhiều hộ kinh tế hoạt động ở nhiều lĩnh vực, đa dạng ngành nghề như: Kinh doanh ăn uống, mỹ phẩm, sắt, thép, nội thất.Vì vậy, sẽ tạo được nhiều cơ hội, nhiều nơi làm việc cho lực lượng lao động. - Nâng cao thu nhập cho người lao động: Tạo việc làm cho lực lượng lao động, người chủ sẽ phải trả tiền thuê mướn lao động cho người lao động theo thoả thuận.
Theo thời gian, năng lực làm việc và tình hình sản xuất, kinh doanh, tiền lương sẽ có những biến đổi. - Tiền đề để phát triển thành công ty, doanh nghiệp: Kinh tế hộ gia đình phát triển, hoạt động kinh doanh sản xuất đạt nhiều thành công sẽ là tiền đề để hộ mở rộng sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng công việc, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống. TÍN DỤNG TIÊU DÙNG CHO HỘ GIA ĐÌNH TỪ CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 2. Khái niệm tín dụng Theo Lê Văn Tề (2007), tín dụng (credit) có nguồn gốc từ tiếng La Tinh – Creditum – tức là sự tin tưởng, tín nhiệm, có nghĩa là vay mượn sự tin tưởng hoặc tín TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 nhiệm đó để thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị vật chất hoặc tiền tệ trong một thời gian.
Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một khoảng thời gian nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và khi đến hạn người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn. Khoảng giá trị dôi ra này gọi là lợi tức tín dụng. Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định.
Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hóa đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi. Tín dụng là một phạm trù kinh tế chỉ mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định, theo Sử Đình Thành (2006). Theo Nguyễn Minh Kiều (2008), “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Nguồn tín dụng chính thức và phi chính thức Theo Hồng Hoàng Anh (2008), tín dụng được phân loại thành: - Phân loại theo hình thức: Tín dụng chính thức là hình thức tín dụng hợp pháp, được sự cho phép của Nhà nước.
Các tổ chức tín dụng chính thức hoạt động dưới sự giám sát và chi phối của Ngân hàng Nhà nước. Các nghiệp vụ hoạt động phải chịu sự quy định của Luật Ngân hàng như sự quy định khung lãi suất, huy động vốn, cho vay…và những dịch vụ mà chỉ có các tổ chức tài chính chính thức mới cung cấp được. Các tổ chức tín dụng chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 thức bao gồm các Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng chính sách xã hội, Quỹ tín dụng nhân dân, các chương trình trợ giúp của Chính phủ. Tín dụng phi chính thức là các hình thức tín dụng nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước.
Các hình thức này tồn tại khắp nới và gồm nhiều nguồn cung vốn như cho vay chuyên nghiệp, thương lái cho vay, người thân, bạn bè, họ hàng, hụi…Lãi suất cho vay và những quy định trên thị trường này do người cho vay và người vay quyết định, trong đó, cho vay chuyên nghiệp là hình thức cho vay nặng lãi bị Nhà nước nghiêm cấm. - Phân loại theo kỳ hạn: Tín dụng ngắn hạn: Là loại hình tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng, thường được dùng để cho vay bổ sung vốn lưu động, tăng chi tiêu mua sắm và nhu cầu thanh toán cho chi phí sinh hoạt cá nhân. Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng, dùng để cho vay vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các công trình quy mô nhỏ hoặc cho vay xây dựng nhà ở, mua sắm hàng tiêu dùng có giá trị lớn. Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng, được sử dụng để cho vay dự án đầu tư xây dựng mới, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.