Chương 1 trình bày các kiến thức nền tảng về mộc bản, công nghệ số hóa 3D mộc bản, tổng quan về depthmap và về các mô hình học máy, độ đo Fréchet Inception Distance là những kiến thức được tác giả sử dụng để giải quyết bài toán khôi phục depthmap từ bản in 2D mộc bản.1 Tổng quan mộc bản triều Nguyễn 1.1 Giới thiệu mộc bản triều Nguyễn Mộc bản triều Nguyễn là những tấm gỗ khắc chữ Hán hoặc chữ Nôm ngược dùng để in ra các sách, sử dụng phổ biến ở Việt Nam trong thời kỳ phong kiến và được lưu giữ đến ngày nay. Do nhu cầu phổ biến rộng rãi các chuẩn mực xã hội, các điều luật, ghi lại các sự kiện lịch sử và lưu truyền công danh, sự nghiệp của các vua chúa triều đình nhà Nguyễn đã cho biên soạn, khắc in nhiều bộ sách sử và các tác phẩm văn chương. Để in được các cuốn sách đó đã sản sinh ra một tài liệu đặc biệt, đó là mộc bản triều Nguyễn.1 Mộc bản triều Nguyễn bên trái là tấm mộc bản được làm bằng gỗ, bên phải là nội dụng bản in được in từ tấm mộc bản.1 Mộc bản triều Nguyễn.2 Hiện trạng của mộc bản triều Nguyễn Hiện tại, việc bảo tồn di sản mộc bản triều Nguyễn đang gặp phải nhiều vấn đề và đối mặt với nhiều thách thức. Trong đó có hai vấn đề lớn và nổi bật là mộc bản bị thất lạc trong quá trình bảo quản, vận chuyển hoặc do chiến tranh; và theo thời 5 gian, vật liệu gỗ tạo nên các mộc bản dần bị biến dạng, hư hỏng do các nguyên nhân như thời tiết, nấm mốc, mối, mọt, cháy nổ.
Thực tế thống kê cho thấy, di sản mộc bản Triều Nguyễn để lại hơn 50.000 tấm nhưng hiện nay chỉ còn 34.619 tấm đang được lưu trữ và bảo tồn tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, trong đó nhiều tấm là chỉ là một phần còn lại của mộc bản và đối mặt với hiện trạng vật lý yếu, khó bảo tồn.2 Những tấm mộc bản bị hư hại, chúng ta có thể thấy có những tấm mộc bản đã bị mất hơn một nửa tấm hoặc chỉ còn lại một phần ba hay thậm chí còn lại một góc so với nguyên bản của tấm mộc bản.2 Những tấm mộc bản bị hư hại. Từ những vấn đề nêu trên, chúng ta cần có một phương án, cách thức lưu trữ bền vững và phục hồi lại những tấm mộc bản đã bị thất lạc, hư hỏng hoặc không toàn vẹn.3 Khôi phục mộc bản từ bản in Vấn đề bảo tồn và lưu trữ mộc bản một cách có hiệu quả đã được nghiên cứu và công bố trong một vài tạp chí [3,5]. Năm 2019, nhóm nghiên cứu của PGS. Lê Thanh Hà tại phòng thí nghiệm Tương tác Người máy, Trường Đại học Công nghệ, đã chủ trì và thực hiện thành công đề tài “Nghiên cứu, lựa chọn công nghệ 6 số hóa và in 3D tài liệu mộc bản Triều Nguyễn – Di sản tư liệu thế giới”.
Nhóm nghiên cứu đã khảo sát hơn sáu trăm tấm mộc bản, số hóa 3D thử nghiệm mười mộc bản và in 3D thử nghiệm năm mộc bản và kết quả được đánh giá cao [10]. Đầu vào của quy trình này là các tấm mộc bản vật lý đang được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, đầu ra là mô hình 3D của các tấm mộc bản kể trên.3 Mộc bản gốc, số hóa 3D và in từ bản số. Như đã đề cập ở Mục 1. số lượng mộc bản thực tế hơn 50.000 tấm nhưng hiện tại còn lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV chỉ còn 34.619 hơn thế nữa có rất nhiều tấm không nguyên vẹn.
Tuy nhiên, các bản in từ những tấm mộc bản bị thất lạc hư hỏng kể trên chúng ta vẫn đang lưu trữ lại. Qua đó, vấn đề của bài toán là tìm được phương thức có thể khôi phục lại các mộc bản bị thất lạc hoặc không nguyên vẹn từ những bản in còn lưu trữ lại. Hay nói cách khác, chúng ta đi tìm phương pháp khôi phục lại mô hình 3D của mộc bản (những tấm đã được số hóa thành mô hình 3D) từ ảnh 2D bản in tương ứng của mộc bản. Có hai hướng tiếp cận chính để giải quyết bài toán khôi phục mô hình 3D từ bản in 2D mộc bản.
Cách thứ nhất là trực tiếp khôi phục các điểm dữ liệu trong miền dữ liệu 3D của mộc bản (point clouds), đầu vào của phương pháp này là bức ảnh 2D bản in của mộc bản và đầu ra là mô hình 3D mộc bản với các điểm point clouds cấu thành lên tấm mộc bản 3D, tuy nhiên cho tới nay kết quả của các nghiên cứu về việc khôi phục trực tiếp từ 2D sang 3D còn chưa được khả quan. Cách thứ hai là thực hiện khôi phục lại đối tượng trung gian đơn giản có thể hiện hơn và có khả năng tái tạo lại mô hình 3D của mộc bản. Ảnh độ sâu depthmap là một dạng trung gian như vậy, nó là một ảnh 2D nhưng thể hiện chiều sâu của ảnh và có khả năng thể hiện được các đặc trung 3D theo một góc nhìn cụ thể. Phương pháp tiếp 7 cận gián tiếp được tác giả áp dụng trong luận văn này.
Giới hạn nghiên cứu của luận văn là khôi phục depthmap từ bản in 2D mộc bản.4 Tổng quát xử lý khôi phục mộc bản Hình 1.4 Tổng quát xử lý khôi phục mộc bản khi khôi phục lại một tấm mộc bản đã bị thất lạc hoặc không toàn vẹn (đã mất). Trong đó phương pháp tiếp cận mà tác giả sử dụng là khôi phục lại ở mức ký tự của tấm mộc bản đã mất, do vậy trong luận này sẽ giới hạn khôi phục lại tấm mộc bản ở mức ký tự depthmap.2 Công nghệ số hóa 3D mộc bản Việc số hóa 3D mộc bản là công việc cần thiết và tiên quyết trong quá trình khôi phục Deptmap cho mộc bản. Nó vừa trợ giúp cho việc bảo tồn, trưng bày, triển lãm tốt hơn khi không ảnh hưởng đến các tấm mộc bản gốc mà còn là đầu vào cho quá trình khôi phục depthmap của mộc bản. Hiện nay có nhiều công nghệ có thể được sử dụng để số hóa 3D các đối tượng thể khối bao gồm mộc bản.
Những công nghệ số hóa phổ biến bao gồm: công nghệ quét 3D có tiếp xúc (contact – based); công nghệ quét 3D sử dụng ảnh chụp từ các góc của vật (photogrammetry); công nghệ quét 3D sử dụng ánh sáng la-de (laser); công nghệ quét 3D sử dụng ánh sáng có cấu trúc (structed light); công nghệ quét sử dụng xung laser (LASER pulse-based). Các đặc trưng được mô tả trong Bảng 1.1 Đặc trưng của các kỹ thuật số hóa 3D Vật Vật trung STT Kĩ thuật số hoá 3D Vật to Ghi chú nhỏ bình Công nghệ sử dụng sẽ chạm liên tục vào Kỹ thuật số hoá 3D 1 X X vật quét, không phù contact-based hợp sử dụng trên mộc bản. Công nghệ cần có Kỹ thuật số hoá 3D 2 X X thiết bị máy tính hiệu photogrammetry năng cực mạnh. Kỹ thuật số hoá 3D Quét được các bề 3 LASER triangula- X X mặt khó như bóng, tion tối màu, … Đa dụng, có nhiều Kỹ thuật số hoá 3D ống kính để quét các 4 sử dụng ánh sáng X X chi tiết nhỏ tới lớn có cấu trúc trong cùng vật quét.
Kỹ thuật số hoá 3D Độ chi tiết không 5 LASER pulse- X cao, phù hợp để quét based các vật thể lớn. Kỹ thuật quét 3D dựa trên tiếp xúc sử dụng một vật mềm nhỏ hoặc một đầu dò để áp vào bề mặt vật cần quét, kỹ thuật sử dụng phần mềm hỗ trợ để tính toán vị trí vật trong môi trường 3D. Kỹ thuật quét 3D sử dụng ảnh chụp sẽ dùng các ảnh chụp từ các góc của vật, áp dụng các thuật toán tính toán hình học phức tạp và thị giác máy để xác định các điểm của vật tương đương trên ảnh, các thông số đo của vật trong ảnh để tính toán và xây dựng mô hình 3D số của vật. Kỹ thuật quét 3D sử dụng xung laser là các kỹ thuật quét tầm xa, phù hợp cho những vật to như toà nhà, máy bay, … Các cảm biến và phần mềm hỗ trợ có thể dựa vào thời gian phản xạ của tia laser hoặc dựa vào góc thay đổi của tia laser để tính toán và 9 số hoá vật được quét.
Kỹ thuật quét 3D sử dụng ánh sáng có cấu trúc chiếu mô hình ánh sáng gồm các hình thanh và khối sáng lên vật được quét. Kỹ thuật bao gồm một hoặc nhiều cảm biến “nhìn” vào góc, cạnh của thanh/khối sáng để xác định hình dạng 3D của vật. Kỹ thuật quét 3D LASER triangulation cũng tương tự như kỹ thuật sử dụng ánh sáng có cấu trúc đó là dựa vào góc thay đổi của tia sáng để tính toán hình dạng bề mặt của vật thể. Qua thảo luận và khảo sát hiện trạng của mộc bản về kích thước và khối lượng; màu sắc; nội dung tấm và tình trạng mộc bản nhằm lựa chọn công nghệ quét cũng như thực hiện qui trình quét hợp lý.
Nhận thấy hai dòng thiết bị quét 3D GOM ATOS và PRINCE có kỹ thuật quét ánh sáng sử dụng cấu trúc và công nghệ quét la-de tương ứng là phù hợp với việc quét mộc bản, vì yêu cầu kỹ thuật quét các tấm mộc bản đỏi hỏi độ chính xác cao đồng thời cần hạn chế tiếp xúc với mộc bản để tránh tác động không mong muốn vào mộc bản. Với những ưu điểm trên, Phòng thí nghiệm Tương tác Người - Máy, Khoa CNTT, Trường ĐHCN, ĐHQG HN đã sử dụng 2 máy quét cụ thể GOM ATOS III Triple Scan và PRINCE335 với thông số kỹ thuật tương được mô tả trong (Bảng 1.3) để thực hiện quét thử nghiệm.2 Thông số kỹ thuật thiết bị GOM ATOS III Triple Scan Chỉ số Giá trị Số lượng điểm ảnh 2 x 8.000 pixel Diện tích vùng đo 38 x 29 - 2000 x 1500 mm Độ phân giải (Tùy theo cửa sổ đo 0.61 mm và khoảng cách tới vật đo) Khoảng cách đo 490 – 2.000 mm Bộ điều khiển sensor Tích hợp Độ dài cáp nối Lên tới 30m Cảm biến định vị Cảm biến công nghiệp tự động 10 Chỉ số Giá trị Định vị thành phần quét Dùng bàn xoay tự động hoặc thủ công Máy tính xử lý ảnh Di động hoặc PC cao cấp Hệ điều hành Windows 7 Thu thập dữ liệu, xử lý và kiểm tra hoàn Phần mềm chỉnh Bảng 1.3 Thông số kỹ thuật thiết bị PRINCE335 Chỉ số Giá trị Model Standard mode R Hyperfine mode B Cân nặng 0.95 Kg Kích thước 315x165x105 mm 3 cặp tia laser đỏ chéo Nguồn laser 5 tia laser xanh song song nhau Tốc độ quét 265.