LỜI MỞ ĐẦU. Đã từ lâu, tín dụng tiêu dùng được xem là một phần quan trọng của ngân hàng bán lẻ (phần quan trọng nhất). Thậm chí theo Peter Drugger tín dụng tiêu dùng là cứu cánh của ngân hàng thương mại, nhất là khi mà tín dụng doanh nghiệp bị cạnh tranh khốc liệt bởi các công ty tài chính, các quỹ đầu tư và thị trường chứng khoán khiến cho tín dụng doanh nghiệp có mức sinh lời ngày càng nhạy cảm, trong khi đó thì tín dụng tiêu dùng (kể cả thể tín dụng) lại đang có tốc độ tăng mạnh mẽ. Khảo sát của tập đoàn BCG cũng cho thấy, mặc dù cho vay tiêu dùng chỉ chiếm 30%- 35% tổng dư nợ nhưng tạo ra trên 60% lợi nhuận của các ngân hàng thương mại hàng đầu châu Á.
6 Việt Nam, cho tới hiện nay thì dư nợ vay tiêu dùng bình quân của một người dân khoảng 900.000 đồng, trong khi đó thu nhập quốc dân bình quân đầu người khoảng 17 triệu đồng là rất thấp. Tương tự, tỷ lệ cho vay tiêu dùng chỉ chiếm 6,54% tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế, hoặc với tỷ lệ 4 người trưởng thành mới có một tài khoản ở ngân hàng. Điều này chứng tỏ, tiểm năng về phát triển ngân hàng bán lẻ và dịch vụ thanh toán là rất lớn ở Việt Nam. Bên cạnh đó, kinh tế Việt Nam hiện nay đang chịu ảnh hưởng của suy thoái nền kinh tế toàn cần, thị trường tiêu thụ hàng hóa trì trệ, hoạt động của các doanh nghiệp gặp khó khăn hơn, vì vậy hoạt động vay vốn kinh doanh tại các ngân hàng cũng suy giảm hơn trước.
Trước tình hình này, với lợi thế là đơn giản hơn, không phải thẩm định dự án phức tạp, không đòi hỏi trình độ cán bộ tín dụng cao cấp có năng lực tài chính doanh nghiệp và dự báo thị trường chuyên nghiệp, mức rủi ro thấp hơn nhiều so với cho vay doanh nghiệp, cho vay tiêu dùng đang là hoạt động mà các ngân hàng thương mại đang đẩy mạnh nhằm kích cầu thị trường, song song với động thái giảm lãi suất của Ngân Hàng Nhà Nước. Chính vì thế mà cho vay tiêu dùng hiện nay là một mắng hoạt động đẩy tiểm năng của nhiều ngân hàng. Với mục tiêu trở thành “Ngân hàng bán lẻ đa năng hiện đại hàng đầu Việt Nam ”Techcombank nói chung và Techcombank Phú Mỹ Hưng nói riêng rất chú trọng vào mảng hoạt động này. Chính vì vậy mà em đã chọn để tài “Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Techcombank chi nhánh Phú Mỹ Hưng” với mục đích tìm ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng, nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ở Techcombank.
Chuyên đề tỗt nghiệp GVHD: TS. Lê Phan Thị Diệu Thảo CHUONG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG 1.1 Khái niêm ngân hàng thương mại 1. Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nên kinh tế. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của các nền kinh tế, mỗi giai đoạn phát triển có một hình thức tổn tại phù hợp với mức độ phát triển của nền kinh tế đó.
Ngân hàng thu hút vốn nhàn rỗi vô cùng lớn từ các tầng lớp dân cư, hộ gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế xã hội khác. Ngoài ra các ngân hàng còn cho vay ngược lại các tổ chức trong nền kinh tế. Khi cá nhân hay doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để tiêu dùng, cần dịch vụ thanh toán hay cân lời tư vấn về tài chính, thông thường họ tìm đến ngân hàng. Do đó ngân hàng đóng vai trò là một trung gian tài chính quan trọng nhất “Ngân hàng là chủ nợ lớn nhất đồng thời cũng là con nợ lớn nhất trong nền kinh tế”.
Tuy nhiên để đưa ra một định nghĩa nhất định về ngân hàng thương mại thì chưa có một định nghĩa nào là thuyết phục do có sự khác nhau về truyền thống và tập quán của mỗi vùng, đây là nhân tố ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động cúa ngân hàng. Dựa trên tỉnh thần Luật của các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ban hành 12/12/1996 và thực tế ta có thể nói Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế với hoạt động chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với các chức năng thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cho vay, đầu tư và cung ứng các dịch vụ thanh toán.2 Chức năng của ngân hàng thương mại. Chức năng trung gian tài chính: Đây là chức năng xuất hiện sớm nhất và lâu đời nhất. Khi thực hiện chức năng này, ngân hàng thương mại thực hiện —— —— = SVTH: Đặng Hoàng Kim Phượng Trang 1 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.
Lé Phan Thi Diệu Tháo các nghiệp vụ bao gồm nghiệp vụ cấp tín dụng, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán và nhiêu hoạt động môi giới khác. Từ “trung gian” ở đây có thể hiểu theo hai ý nghĩa: - Trung gian giữa các khách hàng với nhau. Ví dụ ngân hàng thương mại làm trung gian giữa người gửi tiền và người vay tiền, hay trung gian giữa người trả tiền và người nhận tiền, hoặc trung gian giữa người mua và người bán ngoại tỆ. - _ Trung gian giữa ngân hàng Trung ương và công chúng.
Do Ngân hàng Trung ương ( ở Việt Nam thường gọi là Ngân hàng Nhà nước) không có giao dịch trực tiếp với công chúng mà chỉ giao dịch với các ngân hàng thương mại, vì vậy các ngân hàng thương mại có chức năng vừa giao dịch với ngân hàng Trung ương vừa giao dịch với công chúng. Ngoài chức năng trung gian tài chính, ngân hàng thương mại còn có chức năng tạo tiền tức là chức năng sáng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chu chuyển và phát triển nền kinh tế. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund) goi tat là IME, khối tiền tệ của một quốc gia bao gồm: Tiển giấy, tiền kim loại, và tiên gửi không kỳ hạnở ngân hàng. Còn tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi định kỳ không được xem là bộ phận của khối tiền tệ mà chỉ được xem là “chuẩn tiền”, vì tính chất kém thanh khoản của bộ phận này.
Nhưng từ thập niên 1980 trở đi nhiều nhà kinh tế học bắt đầu xem "chuẩn tiễn ” là một thành phần của khối tiễn tệ. IME và Ngân hàng Thế giới (World Bank) gần như chấp nhận quan điểm này nhưng còn ngần ngại nên phân biệt thành nhiều dạng khối tiền tệ như MI, M2, M3 và L. Chức năng “san xuất” của ngân hàng thương mại: Trong kinh tế học, sản xuất được định nghĩa như là quá trình sử dụng các yếu tố nhập lượng bao gồm đất đai, lao động và vốn để tạo ra sản phẩm và dịch vụ. Chúng ta có thể liên hệ =——_ SVTH: Đặng Hoàng Kim Phượng Trang 2 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS.
Lé Phan Thi Diéu Théo và thấy rằng ngân hàng thương mại cũng sử dụng các yếu tố đất đai, lao động và vốn để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ như các doanh nghiệp sản xuất khác. Điều đáng lưu ý là ngân hàng thương mại sử dụng các yếu tố nhập lượng có tính chất rất đặc biệt. Đất đai: sử dụng đất đai nằm ở trung tâm thương mại để tiện giao dịch với khách hàng. Có thể nói đất đai mà ngân hàng thương mại sử dụng thuộc vào loại đất đai nằm ở trung tâm đô thị và đắt tiền.
Cứ nhìn vào nơi nào ngân hàng thương mại chọn để đặt trụ sở hoặc chỉ nhánh bạn sẽ dể dàng nhận ra tính chất đặc thù này. Lao động: lao động được sử dụng cũng khá khác biệt so với các doanh nghiệp khác ở chỗ lao động của ngân hàng thương mại là lao động có kỹ năng, lao động được đào tạo ở một trình độ nhất định, ít ra cũng là trình độ cao đẳng hay đại học như hiện nay. Vốn: sử dụng đại bộ phận vốn từ nguồn vốn huy động của khách hàng. Có thể nói chưa có loại hình doanh nghiệp nào có tỷ số nợ trên vốn cao như ngân hàng thương mại.
Trên cơ sở sử dụng các yếu tố nhập lượng hay yếu tố đầu vào đặc thù của quá trình sản xuất, ngân hàng thương mại tạo ra sản phẩm và dịch vụ đặc thù để cung cấp cho khách hàng. Các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thương mại có thể cung cấp bao gồm: Các sản phẩm huy động vốn như tiển gửi và chứng từ có giá các loại. Các sản phẩm cấp tín dụng như cho vay doanh nghiệp, cho vay cá nhân, cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất, tài trợ xuất nhập khẩu, tài trợ dự án, cho thuê tài chính. Các sản phẩm thẻ như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thể ATM.
— SVTH: Dang Hoàng Kim Phượng Trang 3 Chuyên đê tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Phan Thị Diệu Thảo es - Các dịch vụ ngân hàng như dịch vụ chuyển tiễn, thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán quốc tế. -_ Các sắn phẩm kinh doanh ngoại tệ như các giao dịch giao ngay, kỳ hạn, hoán đổi, giao sau, quyển chọn. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại với chức năng là một trung gian tài chính quan trọng có những hoạt động cơ bản sau.1 Hoạt động huy động vốn.
Vốn là một yếu tố quan trọng trong việc tổn tại và phát triển của một ngân hàng nên các ngân hàng ra sức huy động càng nhiều vốn càng tốt. Tuy nhiên, do sự hạn chế về quy mô huy động phụ thuộc vào vốn chủ sở hữu, ngân hàng có khả năng huy động vốn càng lớn khi quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng càng lớn. Vì vậy hoạt động huy động vốn của ngân hàng có thể chia ra làm hai mắng: - Huy động tiên gửi: ngân hàng tiến hành huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ cá nhân, các hộ gia đình. bao gềm tiền gửi giao dịch, tiền gửi phi giao dich và tiền gửi các ngân hàng.
+ Tiển gửi giao dịch: (còn gọi là tiền gửi thanh toán, tiền gửi hoạt kỳ hay tiên gửi séc). Đây là loại tiễn gửi của các cá nhân, doanh nghiệp và đôi khi, ở một số nước là chính phủ trung ương hoặc địa phương. Đây là dạng tiền gửi mà chủ tài khoản có thể rút tiễn bằng một công cụ lệnh để chuyển ngân cho một bên thứ ba. Dạng thông dụng nhất của loại tiển gửi này là tiễn gửi dùng séc và tiền gửi NOW (Negotiable Order of Withdrawal - dạng tiễn gửi hỗn hợp giữa tiền gửi giao dịch không hưởng lãi và tiền gửi tiết kiệm).