Phân tích hoạt động tín dụng tại Ngân hàng PTNĐBSCL - Chi nhánh Sài Gòn

Khóa luận phân tích hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long chi nhánh Sài Gòn, cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả tín dụng.

Trường đại học

Không có thông tin

Chuyên ngành

Không có thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

Không có thông tin

83
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn phân tích hoạt động tín dụng MHB Sài Gòn

Hoạt động tín dụng là xương sống của mọi ngân hàng thương mại, quyết định phần lớn lợi nhuận và sự phát triển bền vững. Khóa luận này tập trung phân tích hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB) - Chi nhánh Sài Gòn, một đơn vị từng có vai trò quan trọng trước khi diễn ra sự kiện ngân hàng MHB sáp nhập BIDV. Việc phân tích sâu vào các nghiệp vụ, quy trình và hiệu quả tín dụng tại chi nhánh này cung cấp cái nhìn thực tiễn về cách một ngân hàng nhà nước vận hành, đối mặt với thách thức và tìm kiếm giải pháp tăng trưởng. Nghiên cứu này không chỉ là một tài liệu học thuật giá trị mà còn là nguồn tham khảo hữu ích cho các cán bộ tín dụng, nhà quản lý ngân hàng và sinh viên chuyên ngành tài chính. Các cơ sở lý luận về tín dụng, từ khái niệm, chức năng đến các nguyên tắc cơ bản, được trình bày một cách hệ thống, làm nền tảng cho việc phân tích thực trạng hoạt động tại chi nhánh. Đây là một luận văn tín dụng ngân hàng điển hình, đi từ lý thuyết đến thực tiễn một cách logic và khoa học.

1.1. Vai trò và các nguyên tắc cốt lõi của tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng đóng vai trò là huyết mạch, điều hòa vốn trong nền kinh tế. Chức năng chính là tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi và phân phối lại cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu để phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng. Hoạt động này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ và tạo công ăn việc làm. Theo tài liệu nghiên cứu, hoạt động tín dụng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản. Nguyên tắc quan trọng hàng đầu là vốn vay phải được hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi. Điều này đảm bảo an toàn tín dụng ngân hàng và khả năng thanh khoản. Nguyên tắc thứ hai là vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng và phải có hiệu quả. Ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay để đảm bảo nguyên tắc này được thực thi, từ đó hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

1.2. Các chỉ tiêu đánh giá tín dụng quan trọng cần biết

Để đánh giá hiệu quả tín dụng, các ngân hàng sử dụng một hệ thống chỉ tiêu đo lường cụ thể. Luận văn đã nêu bật một số chỉ tiêu then chốt. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là chỉ số đầu tiên phản ánh chất lượng danh mục cho vay. Tỷ lệ này càng thấp, chất lượng tín dụng càng cao. Một chỉ tiêu quan trọng khác là tỷ trọng nợ xấu và xử lý nợ xấu. Nợ xấu (thường là nợ quá hạn trên 90 ngày) là thước đo rủi ro lớn nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và sự an toàn của ngân hàng. Các chỉ tiêu đánh giá tín dụng khác bao gồm tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động, cho thấy khả năng sử dụng nguồn vốn tại chỗ, và tỷ lệ thu nhập từ lãi trên tổng thu nhập, phản ánh mức độ phụ thuộc của ngân hàng vào hoạt động tín dụng. Việc theo dõi sát sao các chỉ số này giúp ban lãnh đạo đưa ra các quyết định kịp thời nhằm nâng cao chất lượng tín dụng.

II. Khám phá thực trạng hoạt động tín dụng và thách thức tại MHB

Việc phân tích thực trạng hoạt động tín dụng tại MHB Chi nhánh Sài Gòn trong giai đoạn nghiên cứu (trước khi sáp nhập) cho thấy những kết quả tích cực song cũng tồn tại không ít hạn chế. Luận văn đã chỉ ra sự tăng trưởng ấn tượng về doanh số cho vay và dư nợ, đặc biệt trong các lĩnh vực cho vay khách hàng cá nhân mua, xây sửa nhà và cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, đi kèm với sự tăng trưởng là những thách thức trong công tác quản trị rủi ro tín dụng. Các số liệu từ Bảng 13 trong tài liệu gốc cho thấy tình hình nợ quá hạn và nợ xấu có những biến động, đòi hỏi chi nhánh phải có những biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn. Những hạn chế được chỉ ra bao gồm hình thức cho vay chưa đa dạng, công tác tiếp thị tìm kiếm khách hàng còn thụ động và quy trình nội bộ đôi khi còn vướng mắc. Đây là những vấn đề phổ biến mà nhiều ngân hàng thương mại nhà nước phải đối mặt trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.

2.1. Phân tích cơ cấu dư nợ cho vay theo đối tượng và kỳ hạn

Tài liệu nghiên cứu đã tiến hành phân tích chi tiết cơ cấu dư nợ cho vay của MHB Sài Gòn. Về đối tượng, dư nợ cho vay khách hàng cá nhâncho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) chiếm tỷ trọng lớn. Điều này phản ánh đúng định hướng của ngân hàng là tập trung vào phân khúc bán lẻ và các doanh nghiệp năng động. Cụ thể, các sản phẩm cho vay mua nhà, sửa chữa nhà và cho vay sản xuất kinh doanh là các sản phẩm chủ lực. Về kỳ hạn, các khoản vay trung và dài hạn chiếm ưu thế, phù hợp với mục tiêu phát triển nhà ở và đầu tư cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, việc tập trung quá nhiều vào một vài lĩnh vực có thể dẫn đến rủi ro danh mục khi thị trường biến động. Việc đa dạng hóa danh mục cho vay là một trong những yếu tố quan trọng để đảm bảo an toàn tín dụng ngân hàng.

2.2. Nhận diện nợ xấu và rủi ro trong quản trị tín dụng

Vấn đề nợ xấu và xử lý nợ xấu là một trong những nội dung trọng tâm của luận văn. Nghiên cứu chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan đến từ sự biến động của kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý chưa hoàn thiện. Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ chính ngân hàng (năng lực thẩm định của cán bộ, chính sách tín dụng chưa chặt chẽ) và từ phía khách hàng (sử dụng vốn sai mục đích, năng lực tài chính yếu kém). Công tác quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh đã được thực hiện nhưng vẫn còn những điểm cần cải thiện. Việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro được thực hiện theo quy định, tuy nhiên, các biện pháp thu hồi nợ, đặc biệt là các khoản nợ khó đòi, cần được quyết liệt hơn để giảm thiểu tổn thất và nâng cao chất lượng tín dụng.

III. Phương pháp phân tích và quy trình thẩm định tín dụng tại MHB

Để đảm bảo các quyết định cho vay là chính xác và an toàn, MHB Chi nhánh Sài Gòn đã áp dụng một quy trình tín dụng tương đối chặt chẽ. Luận văn đã mô tả chi tiết quy trình này, từ khâu tiếp nhận hồ sơ đến khi tất toán hợp đồng. Đây là một quy trình chuẩn, được áp dụng tại hầu hết các ngân hàng thương mại, nhằm mục đích sàng lọc khách hàng, đánh giá hiệu quả tín dụng của từng dự án/phương án vay vốn, và giảm thiểu rủi ro. Trọng tâm của quy trình này là khâu thẩm định. Cán bộ tín dụng không chỉ phân tích tài chính ngân hàng dựa trên các báo cáo do khách hàng cung cấp mà còn phải xác minh thực tế, đánh giá uy tín và năng lực trả nợ của người vay. Việc tuân thủ nghiêm ngặt quy trình thẩm định tín dụng là yếu tố tiên quyết để hạn chế nợ xấu phát sinh, đảm bảo an toàn tín dụng ngân hàng và duy trì hoạt động kinh doanh ổn định.

3.1. Các bước trong quy trình thẩm định tín dụng chuyên nghiệp

Theo tài liệu nghiên cứu, quy trình thẩm định tín dụng tại MHB Chi nhánh Sài Gòn được thực hiện qua nhiều bước. Bước đầu tiên là tiếp nhận và kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ vay vốn. Tiếp theo, cán bộ tín dụng tiến hành thẩm định chi tiết, bao gồm: thẩm định tư cách pháp lý và uy tín của khách hàng; thẩm định năng lực tài chính thông qua phân tích báo cáo tài chính, dòng tiền; thẩm định tính khả thi và hiệu quả sử dụng vốn của phương án vay; và thẩm định tài sản đảm bảo. Mỗi bước đều có vai trò quan trọng trong việc đưa ra bức tranh toàn cảnh về khách hàng. Kết quả thẩm định được trình bày trong một tờ trình, là cơ sở để cấp có thẩm quyền xem xét và phê duyệt khoản vay. Quy trình này giúp hệ thống hóa công việc, chuẩn hóa chất lượng thẩm định và là công cụ hữu hiệu trong quản trị rủi ro tín dụng.

3.2. Tầm quan trọng của việc kiểm tra và giám sát sau cho vay

Hoạt động tín dụng không kết thúc sau khi giải ngân. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát sau cho vay. Cán bộ tín dụng phải thường xuyên theo dõi tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng để đảm bảo vốn được dùng đúng mục đích cam kết. Đồng thời, việc giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của khách hàng giúp ngân hàng phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro tiềm ẩn. Khi phát hiện các vấn đề như khách hàng gặp khó khăn tài chính hoặc sử dụng vốn sai mục đích, ngân hàng có thể can thiệp kịp thời, đưa ra các biện pháp hỗ trợ hoặc áp dụng các biện pháp cứng rắn như thu hồi nợ trước hạn. Công tác này giúp bảo vệ nguồn vốn của ngân hàng, hạn chế tối đa việc phát sinh nợ xấu và xử lý nợ xấu trở nên phức tạp hơn, qua đó góp phần nâng cao chất lượng tín dụng một cách bền vững.

IV. Top giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hiệu quả nhất

Từ việc phân tích thực trạng và những tồn tại, chương 4 của khóa luận đã đề xuất một hệ thống các giải pháp mở rộng tín dụng và nâng cao hiệu quả hoạt động tại MHB Chi nhánh Sài Gòn. Các giải pháp này được xây dựng dựa trên định hướng phát triển chung của ngân hàng và bám sát vào các vấn đề thực tiễn tại chi nhánh. Mục tiêu chính là vừa tăng trưởng dư nợ một cách bền vững, vừa đảm bảo kiểm soát chặt chẽ rủi ro, cải thiện chất lượng danh mục cho vay. Các nhóm giải pháp tập trung vào hai mảng chính: huy động vốn và sử dụng vốn. Ngoài ra, luận văn cũng đưa ra các kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước và ban lãnh đạo cấp cao nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, hỗ trợ chi nhánh hoạt động hiệu quả. Đây là những đề xuất có tính ứng dụng cao, không chỉ cho MHB mà còn cho nhiều ngân hàng thương mại khác.

4.1. Các giải pháp về huy động và sử dụng vốn hiệu quả

Để nâng cao chất lượng tín dụng, việc cân đối giữa huy động và sử dụng vốn là cực kỳ quan trọng. Về huy động vốn, luận văn đề xuất đa dạng hóa các sản phẩm tiền gửi, áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt và cạnh tranh, đồng thời đẩy mạnh hoạt động marketing để thu hút khách hàng. Nguồn vốn huy động ổn định với chi phí hợp lý sẽ tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động cho vay. Về sử dụng vốn, giải pháp trọng tâm là cải tiến và đơn giản hóa quy trình cho vay để tăng tốc độ xử lý hồ sơ nhưng vẫn đảm bảo chặt chẽ. Bên cạnh đó, việc đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng, đặc biệt là các gói vay cho cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ và các sản phẩm bán lẻ, sẽ giúp phân tán rủi ro và mở rộng thị phần. Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc thu hồi nợ cũng là một biện pháp không thể thiếu để đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn.

4.2. Hoàn thiện chính sách khách hàng và quản trị rủi ro tín dụng

Chính sách khách hàng tốt và hệ thống quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả là hai trụ cột để phát triển tín dụng bền vững. Luận văn kiến nghị chi nhánh cần xây dựng chính sách khách hàng rõ ràng, phân loại khách hàng để có những ưu đãi phù hợp, từ đó thu hút và giữ chân các khách hàng tốt. Về quản trị rủi ro, cần nâng cao năng lực thẩm định của đội ngũ cán bộ tín dụng thông qua đào tạo thường xuyên. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cần được áp dụng một cách khoa học để lượng hóa rủi ro của từng khách hàng. Hơn nữa, việc xây dựng các kịch bản ứng phó với biến động thị trường và các biện pháp xử lý nợ xấu một cách chủ động sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu tổn thất. Các giải pháp đồng bộ này sẽ tạo ra một hàng rào bảo vệ vững chắc, đảm bảo an toàn tín dụng ngân hàng trong dài hạn.

23/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp phân tích hoạt động tín dụng tại ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông cửu long chi nhánh sài gòn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: | CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HANG —ễễằằễằĂễễ———— SVTH: Trương Thị Thanh Hòa trang 3 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ts. Những vấn đề chung về tín dụng ngân hàng: 1. Khái niệm: Ta có thể thầy cụm từ “ tín dụng ngân hàng” là sự kết hợp giữa hai từ tín dụng và ngân hàng. Thuật ngữ tín dụng xuất phát từ tiếng Latinh là Crediium nghĩa là tìn tưởng, tín nhiệm nhưng trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiễu nghĩa khác nhau ngay cả trong quan hệ tổ chức tùy theo bối cảnh cụ thế mà có một nội dung riêng: Xét trên gốc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chú thể thặng dư tài khoản sang chủ thể thiếu hụt tài khoản thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dich quỹ từ người cho vay sang người di vay.

Trong một quan hệ tổ chức, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng. Còn ngân hàng là một khái niệm đã có từ rất lâu, các nhà sử học và ngôn ngữ học miêu tả ngân hàng như một “bàn đổi tiền” xuất hiện hơn 2000 năm trước đây. Chính xác họ là những người ngồi ở bàn hoặc cửa hiệu nhỏ trong các trung tâm thương mại để giúp các nhà giao dịch đổi ngoại tệ lấy bản tệ và chiết khấu các thương phiếu giúp các nhà buôn có vốn kinh doanh.

Các ngân hàng đâu tiên sử dụng ủy nhiệm chỉ để tài trợ cho hoạt động của họ, tuy nhiên điều đó kéo dài không bao lâu và được thay thế trên việc thu hút tiễn gửi và cho vay ngân hàng với những khách hằng giàu có. Theo thời gian, các hoạt động của ngân hàng ngày càng phát triển và đa đạng hơn rất nhiều. Tuy nhiên, hoạt động cho vay hay còn gọi là cấp tín dụng về SVTH: Trương Thị Thanh Hòa trang 4 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ts. Nguyễn Văn Thuận bản chất vẫn không thay đổi và luôn là một máng kinh doanh chính đối với ngân hàng.

Từ đó có thể định nghĩa, © tin dung ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác với các doanh nghiệp và cá nhân, được cấp phát dưới hình thức tiền tệ ”. Bên cho vay sẽ chuyển giao tài sẵn cho bên đi vay sử dụng trong mội thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi vay cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Chức năng của tín dụng ngân hàng: *_ Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả: Có thể nói chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai quá trình cùng thống nhất trong sự vận hành của quan hệ tín dụng. Chức năng này làm cho tín dụng trở thành chiếc cầu nối giữa cung — cầu trong nền kinh tế, nhờ sự vận động của tín dụng mà các chủ thể đi vay nhận được một phần tài nguyên của xã hội, thỏa mãn nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh hoặc tiêu dùng.

Ở khâu tập trung, tín dụng là phương thức giúp cho các chủ thể kinh tế thu hút được một phần nguồn vốn cả xã hội dưới hình thái tiễn tệ hoặc vật chất nhàn rỗi. Việc huy động bằng dụng dựa trên lợi ích kinh tế là hình thức huy động có hiệu quả, khai thác được các nguồn vốn trong và ngoài nước tăng cường nguồn nhân lực tài chính cho các pháp nhân và thể nhân trong nền kinh tế, Ở khâu phân phối, tín dụng đã đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp, các dân cư, các tổ chức xã hội cũng như của nhà nước. Thông qua chức năng phân phối nguền vốn của tín dụng, các nhà tiết kiệm đầu tư có thể tận dụng vốn của mình một cách hợp lý và có hiệu quả cao SVTH: Trương Thị Thanh Hòa trang 5 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ts. Nguyễn Văn Thuận nhất.

Có thể thấy được trong nền kinh tế thị trường, phân phối vốn tín dụng qua hệ thống ngân hàng chiếm vị trí quan trọng. Ngân hàng với sự chuêyn môn hóa về ngành nghề kinh doanh có khả năng tập trung một lượng vốn tín dụng bằng tiền lớn và cơ cấu kỳ hạn đa dang, sau đó ngân hàng thực hiện phân phối lại nguồn vốn vay dưới hình thức cấp tín dụng cho vay đáp ứng nhu cầu về vốn của nhiều đối tượng kịp thời và hiệu quả. "_ Chức năng kiểm soát các hoạt động kinh tế: Kiểm soát các hoạt động kinh tế qua quan hệ tín dụng được thực hiện dưới hình thái giá trị tiền tệ, dựa trên cơ sở vận động của các luông giá trị tiền tệ để kiểm tra kiểm soát. Chức năng này được thực hiện trên cơ sở tín dụng thực hiện chức năng tập trung và phan phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả.

Chức năng kiểm soát hoạt động kinh tế thể hiện khi chủ thể đi vay và chủ thể cho vay thực hiện thẩm định dự án đầu tự, kế hoạch kinh doanh cũng như việc kiểm tra, kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Như vậy, thực hiện chức năng phản ánh kiểm soát các hoạt động kinh tế, tín , dụng. Một mặt đảm bảo lợi ích thiết thực cho các chủ thể kinh tế tham gia, mặt khác còn mang lại lợi ích, hiệu quả cho nên kinh tế quốc dân và toàn xã hội. "_ Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chỉ phí lưu thông cho xã hội: Hoạt động tín dụng đã góp phần quan trọng trong việc tiết kiệm tiền mặt và chỉ phí lưu thông cho xã hội được biểu hiện cụ thể qua những điểm sau: Tín dụng tạo điểu kiện thay thế tiền kim loại bằng các phương tiện chi trả khác như: kỳ phiếu, giấy bạc ngân hàng, séc.

Từ đó giảm bớt chỉ phí về in ấn, phát hành, bảo quản tiển kim loại. w Tín dụng tạo điều kiện ra đời của loại tiền ghi số (bút tệ) thông qua việc tổ chức nghiệp vụ thanh toán không dùng tiễn mặt và thanh toán bù trừ lẫn nhau trong hầu hết các ngân hàng. Điều này một mặt tiết kiệm SVTH;: Trương Thị Thanh Hòa trang 6 Khoá luận tốt ngiiệp GVHD: Ts. Nguyén Van Thuận khối lượng tiền mặt can phát hành vào lưu thông.

Mặt khác, khi thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, các doanh nghiệp tập trung dự trữ tiền mặt vào tài khoản ngân hàng sẽ làm giảm chi phí bảo quản cất giữ tại doanh nghiệp. Y Tín dụng tạo điều kiện tăng nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ. Ở đây tín dụng phát huy chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiển tệ đã góp phần chuyển những khoắn vốn nhàn rỗi đang trong trạng thái nằm yên trong xã hội đưa vào lưu chuyển để phục vụ cho sản xuất lưu thông hàng hóa. Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng: Theo quyết định số 1627/2001/QĐ — NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì khi khách hàng vay vốn của các tổ chức tín dụng phải đảm bảo các nguyên tắc sau: 4 Vốn vay phải được hoàn trả đúng hạn cả vốn gốc lẫn lãi đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng: Nguyên tắc kinh doanh tiền tệ của ngân hàng là *đi vay để cho vay”.

Đại bộ phận vốn của ngân hàng chủ yếu là ngudén vốn huy động. Đó là một bộ phận tài sản của nhiều chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng, do đó ngân hàng phải có nghĩa vụ thanh toán vốn gốc và lãi đúng hạn như đã thoả thuận với ngưởi cho vay (người gửi tiền). Đến lượi mình, khi cho vay ngân hàng cũng phải thu nợ và gốc đúng hạn như đã thoả thuận với người đi vay. Nếu các khoản tín dụng không được hoàn trả đúng hạn thì nhất định sẽ ánh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng.

Chính vì vậy, đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu nhằm đảm bảo cho các ngân hàng thương mại tổn tại và hoạt động bình thường, hạn chế rủi ro về thanh khoản. SVTH: Truong Thi Thanh Hoa trang 7 Khoá luận tốt ngiuệp GVHD: Tý. Nguyễn Văn Thuận Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả kinh tế: Tín dụng cung ứng cho nên kinh tế phải hướng tới mục tiêu và yêu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Đối với các đơn vị kinh tế, tín dụng cũng phải đáp ứng được các mục đích cụ thể trong quá trình hoạt động sản xuất kính doanh để thúc đẩy các doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ sẵn xuất kinh doanh của mình.

Tín dụng đúng mục đích và có hiệu quả kinh tế không những là nguyên tắc mà còn là phương châm hoạt động của tín dụng. Hiệu quả của nó trước hết là đẩy mạnh nhịp độ phát triển của nên kinh tế hàng hóa, tạo ra nhiều khối lượng sản phẩm, dịch vụ đồng thời tạo ra của cải tích luỹ để thực hiện quá trình tái sẵn xuất mở rộng. Các hình thức tín dụng ngân hàng: 1. Cấn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng: o_ Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến mua sắm và xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai, nhà xưởng, các bất động sẵn trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ.

6 Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ. o_ Cha vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chỉ phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc. ©_ Cho vay các định chế tài chính: bao gỗm tín dụng cấp cho các ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác. o Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu cho vay tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiễn và các khoản cho vay dé trang trai chi phí của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.

SVTH: Truong Thi Thanh Hoa trang 8 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Ts. Nguyễn Văn Thuận —————— © Cho thuê: bao gồm cho thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản trong đó chủ yếu là máy móc thiết bị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ