LỜI MỞ ĐẦU Trong năm 2008, nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái ngày càng sâu sắc, thị trường tài chính diễn biến phức tạp và có chiều hướng xấu. Chính phủ các nước đang đổ hàng tỷ USD cho nền kinh tế suy thoái nhằm thoát khỏi cơn khủng hoảng như gói kích cầu của Mỹ: 787 tỷ USD, Nhật: 235 tỷ USD, Trung Quốc: 585 tỷ USD, Việt Nam: 1 tỷ USD. Cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu đã đẩy các chỉ số chứng khoán của các nước luôn lập các kỷ lục đáy mới, hàng loạt các Ngân hàng lớn đứng đầu thế giới bị phá sản hay nhận sự trợ giúp từ chính phủ như Lehman Brothers, Nothern Rock, hay Bank of England ., hàng loạt Tổng Giám đốc, Giám đốc, nhân viên Ngân hàng bị sa thải hoặc bị mất việc. Điển hình nguyên nhân đẩy Ngân hàng Lehman Brothers đến bờ phá sản cũng bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng trăm năm mới có một lần tại thị trường tín dụng và bất động sản.
Lehman Brothers -Định chế tài chính 58 năm tuổi vừa phá sản ngày 15/9/2008 khi mới chi 1 năm trước còn là Ngân hàng lớn thứ tư nước Mỹ với số nhân viên lên tới hơn 26 nghìn. Thiệt hại mà Ngân hàng này phải gánh chịu là kết quả của việc biến các khoản cho vay mua bất động sản thành các gói trái phiếu có gốc bất động sản đầy rủi ro cung cấp cho thị trường. Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiển mua nhà không trả được các khoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất động sản làm tài sản đấm bảo. Khủng hoảng càng gia tăng khiến việc phát mãi tài sản càng tăng làm giá bất động sản càng giảm.
Điểu này có nghĩa giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu cầng giảm và rủi ro tín dụng càng SVTH: Châu Long Việt Trang 1 Chuyên để tốt nghiệp GVHD: PHAN THỊ MINH HUỆ EPỄỶỄỄẺễỄỶỄỄPỄEPỄPEPEPEPEFẼFẼEFFFEFEFẼFẼFŸFŸỲŸỲFễEễễễEEEEEÏÏỶÏỶŸỶŸỶŸỶẼŸEẼẼỶEẼỄẼẼ,,,ẸẸẸ§ẽEGEE tang. Vong xoáy khủng hoảng cứ tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh. Hậu quả là hàng loạt Ngân hàng đầu tư, trong đó có Lehman Brothers, lần lượt báo cáo các khoãn lỗ kinh doanh. Giá trị vốn hóa đỉnh điểm khoảng 45 tỷ vào cuối năm 2007 của Lehman Brothers đã về số0 chỉ sau gần I0 tháng, tạo nên một trong những vụ sụp đổ Ngân hàng chóng vánh nhất.
Khi mà cơn bão tài chính đang hoành hành cũng là lúc người ta nhìn lại những vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử ngành Ngân hàng để tìm hiểu: Đâu là nguyên nhân khiến những cái tên lẫy lừng như Lehman Brothers, Nothern Rock, hay Bank of England trở thành quá khứ ? Tại Việt Nam trong 2008 các Ngân hàng thương mại cũng bị ảnh hưởng, việc sụt giảm doanh số và lợi nhuận là điều tất yếu. Nghiên cứu các hiệu quả cho vay và sử dụng vốn vay của các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Quốc Tế nói riêng là việc rất thiết thực nhằm sử dụng hiệu quả vốn vay, hạn chế rủi ro giúp cho Ngân hàng vượt qua khó khăn hiện tại và hướng tới phát triỂn ở tương lai. Với Phương pháp nghiên cứu tổng hợp, so sánh các số liệu về tình hình vốn cho vay qua các năm, được thống kê trong báo cáo thường niên của Ngân hàng. Từ đây phân tích từ các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay.
Sau đó đề ra các biện pháp có thể nhằm nâng cao hiệu quả vốn vay tại VIB. Đây chính là lý do chọn để tài MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUÁ CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG QUỐC TẾ VIỆT NAM _—=mm————————=>—>———mmmm>>————mmmmmm SVTH: Châu Long Việt Trang 2 Chuyén dé tét nghiép GVHD: PHAN TH] MINH HUF. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HIỆU QUÁ TÍN DỤNG 1.1 Cơ sở lý luận về tín dụng Ngân hàng: 1.1 Khái niệm: Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới dạng hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
" Cho vay: Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau: - Cho vay ngan han nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. -_ Cho vay trung hạn, đài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sắn xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. "Bảo lãnh: Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một ngân hằng thương mại không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngân hàng thương mại.
SVTH: Châu Long Việt Trang 3 Chuyên để tốt nghiệp GVHD: PHAN TH] MINH HUE " Chiết khấu: Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác. " Cho thuê tài chính: Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo nghị định của chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính. -_ Phân biệt tín dụng và cho vay: Bất kỳ sự chuyển giao quyển sử dụng tạm thời (có hoàn trả) về tài sản đều phản ánh quan hệ tín dụng; mối quan hệ tín dụng này lại được thể hiện dưới các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính.
Như vậy, nội dung tín dụng là rộng hơn nội dung cho vay, tuy nhiên trong hoạt động tín dụng, thì cho vay (n dụng bằng tiền) là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại NHTM. Chính vì vậy, thuật ngữ tín dụng và cho vay thường được dùng đan xen và thay thế cho nhau. - Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chỉ phí nhất định. Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung: + Có sự chuyển nhượng quyển sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng +_ Sự chuyển nhượng này có thời hạn +_ Sự chuyển nhượng này có kèm theo chỉ phí SVTH: Châu Long Việt Trang 4 Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PHAN TH] MINH HUE 1.2 Đặc điểm tín dụng Ngân hàng: - Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin.
Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn. -_ Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguỗn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay.
Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định, thì có thể cấp được nhiều tin dung đài hạn; ngược lại, nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì gặp rủi ro thanh khoản. Mặt khác, thời gian cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay, thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn. Nếu ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay, thì khách hàng không đủ nguồn để trả nợ, gây khó khăn cho khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điểu kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiểm ẩn rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
- Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay. Khoản lãi phải luôn luôn là số đương, có như vậy mới bù đắp SVTH: Châu Long Việt Trang 5 Chuyén dé tét nghiép GVHD: PHAN THI MINH HUE ”.—>Ừ—>————nD=>>mmmmmm>>=-=>>->>mmmmm được chỉ phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hang, phan Anh ban chat hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiểm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản chất khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tâm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường, thiền tai. Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này kiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng - Thư năm, tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, khế ước vay tiền, hợp đồng bảo đảm tiễn vay, bảo lãnh., trong đó bên đi vay phải kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn.
+ Tóm lại: từ các đặc điểm trên cho thấy, tín dụng ngân hàng phải bảo dim được hai nguyên tắc cơ bần sau: * Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích * Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng.3 Phân loại tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng (sau đây gọi tắt là tín dụng) có thể phần chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo những tiêu thức phân loại khác nhau.--mẮẳừ—T—z5=štTF->—-mmmm SVTH: Châu Long Việt Trang 6 Chuyên dé tốt nghiệp GVHD: PHAN THỊ MINH HUỆ 1.