Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Bước đầu tìm hiểu độ nhiễm mặn nguồn nước vùng ven biển tỉnh Bình Thuận" được thực hiện trong bối cảnh Bình Thuận là một tỉnh duyên hải cực Nam Trung Bộ có điều kiện tự nhiên đặc thù, chịu tình trạng khô hạn gay gắt nhất cả nước. Địa hình tỉnh dốc, diện tích rừng đầu nguồn suy giảm làm suy yếu khả năng điều tiết nguồn nước, trong khi hệ thống hồ chứa lớn chưa đáp ứng đủ nhu cầu lưu vực. Nguồn nước mặt và nước dưới đất vùng ven biển phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đời sống sinh hoạt bị nhiễm mặn nghiêm trọng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống của đại đa số người dân sống dựa vào nông nghiệp.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung vào:

  1. Làm rõ và đánh giá sâu sắc tình hình nhiễm mặn tại các lưu vực sông và nguồn nước dưới đất vùng ven biển tỉnh Bình Thuận.
  2. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của nguồn nước nhiễm mặn đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của nhân dân địa phương.
  3. Vận dụng kiến thức lý thuyết địa lý vào thực tiễn đánh giá địa phương, đề xuất các định hướng khai thác tiềm năng vùng mặn, biện pháp cải tạo nguồn nước và tạo lập tư liệu phục vụ công tác giảng dạy địa lý địa phương sau này.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể gồm 2 nhiệm vụ:

  • Thu thập số liệu, tài liệu, bản đồ về các vùng nước bị nhiễm mặn ở vùng ven biển tỉnh Bình Thuận.
  • Đánh giá chất lượng và trữ lượng nguồn nước, nhận diện những tác động đến hoạt động kinh tế và sinh hoạt, từ đó đưa ra các kiến nghị cải tạo và sử dụng hợp lý nguồn nước.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình độ mặn của nguồn nước mặt trên các hệ thống sông chính và độ mặn của nguồn nước dưới đất tại dải ven biển.
  • Phạm vi không gian: Vùng ven biển tỉnh Bình Thuận, tập trung vào 4 lưu vực sông chính ở phía Nam tỉnh (sông Dinh, sông Phan, sông Cà Ty, sông Cái Phan Thiết) và các tầng chứa nước ngầm ven biển từ Tuy Phong đến Hàm Tân.
  • Phạm vi thời gian: Khai thác chuỗi số liệu khí tượng - thủy văn nhiều năm giai đoạn 1980 - 1993, trọng tâm đánh giá diễn biến thủy văn và số liệu đo mặn các năm 1991, 1992 và 1993; khóa luận hoàn thành trong niên khóa đào tạo 1997 - 2001.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống phân tích dựa trên 4 quan điểm lý luận địa lý:

  • Quan điểm hệ thống: Xem xét địa phương như một hệ thống hoàn chỉnh gồm nhiều thành phần cấu tạo, liên kết chặt chẽ theo cấu trúc đa tầng (hệ thống trên, hệ thống dưới) và biến đổi qua các giai đoạn quá khứ - hiện tại - tương lai.
  • Quan điểm sinh thái: Đánh giá mối quan hệ tương hỗ giữa con người và môi trường tự nhiên, hướng tới việc khai thác tài nguyên không làm phá vỡ cân bằng tự nhiên, đảm bảo phát triển bền vững lâu dài.
  • Quan điểm tổng hợp: Đánh giá độ nhiễm mặn nguồn nước thông qua sự liên kết tổng thể giữa các yếu tố tự nhiên (địa hình, địa chất, khí hậu, chế độ dòng chảy, thủy triều, thảm thực vật) thay vì tách rời từng nhân tố riêng lẻ.
  • Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Xem xét diễn biến độ mặn trong mối liên hệ giữa quá khứ và hiện tại để dự báo, định hướng cho các giải pháp quản lý tài nguyên nước trong tương lai.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả sử dụng:

  • Phương pháp trong phòng: Thu thập tài liệu, xử lý dữ liệu thống kê, tính toán các chỉ tiêu thủy văn - khí hậu, lập bảng số liệu và vẽ bản đồ, biểu đồ phân bố dòng chảy, lượng mưa.
  • Phương pháp bản đồ: Phân tích các bản đồ lượng mưa, dòng chảy tháng kiệt nhất, dòng chảy trung bình năm và đường đẳng trị mưa để xác định mức độ tác động đến độ mặn.
  • Phương pháp sưu tầm, phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập và tổng hợp các nguồn số liệu chuyên ngành từ các cơ quan quản lý và quy hoạch.
  • Phương pháp thực địa: Quan sát trực tiếp tại một số điểm chính ven biển và lưu vực sông, ghi nhận ý kiến và kinh nghiệm thực tế của người dân cũng như cán bộ nghiên cứu tại địa phương.

Nguồn dữ liệu của đề tài được cung cấp bởi:

  • Cục Thủy lợi - Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Thuận.
  • Phân viện Quy hoạch Khảo sát Thủy lợi Nam Bộ.
  • Chuỗi số liệu đo đạc khí tượng thủy văn trạm Phan Thiết, trạm Mương Mán và trạm Hàm Tân giai đoạn 1980 - 1993.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Đặt vấn đề

Chương I trình bày lý do chọn đề tài xuất phát từ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và vai trò thiết yếu của tài nguyên nước đối với nền kinh tế nông nghiệp của tỉnh Bình Thuận. Tác giả xác định các mục tiêu khoa học, giới hạn nghiên cứu trong việc đánh giá bước đầu độ mặn ở các lưu vực sông chính và nước ngầm ven biển trong một số năm điển hình, đồng thời nêu rõ 2 nhiệm vụ nghiên cứu phục vụ thực tiễn sản xuất và công tác giảng dạy địa lý.

Chương II: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Chương II thiết lập cơ sở lý thuyết bao gồm 4 quan điểm phương pháp luận: hệ thống, sinh thái, tổng hợp và lịch sử viễn cảnh. Đồng thời, chương này mô tả quy trình áp dụng 4 phương pháp nghiên cứu cụ thể (phương pháp trong phòng, phương pháp bản đồ, phương pháp sưu tầm - phân tích - tổng hợp tài liệu, phương pháp thực địa), xác định rõ vai trò và giới hạn của từng phương pháp trong điều kiện nghiên cứu của sinh viên.

Chương III: Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Chương III phân tích toàn diện các thành phần tự nhiên tỉnh Bình Thuận với diện tích 799.240 ha, tọa độ từ 10°31'42" đến 11°33'18" vĩ độ Bắc và 107°21'41" đến 108°52'42" kinh độ Đông:

  • Địa chất: Vùng duyên hải chủ yếu là đá Granit, Diorit, Granodiorit thuộc phức hệ Định Quán, phức hệ Đèo Cả và phức hệ Cà Ná; vùng Tây Nam thuộc lưu vực sông La Ngà là nền đá bazan olivin - pyroxen. Toàn tỉnh có 4 nhóm đứt gãy phức tạp.
  • Địa hình: Trải dài gần 200 km bờ biển, chiều rộng hẹp nhất khoảng 32 km, chia làm 4 dạng chính: vùng núi cao (phía Bắc), vùng đồi gò núi thấp (50 - 200 m), vùng đồng bằng phù sa (10 - 40 m do sông Lòng Sông, sông Luỹ, sông Quao, sông Cà Ty, sông La Ngà bồi đắp) và vùng đồi gò cồn cát ven biển (cồn cát đỏ Tây Nam Bắc Bình dài 52 km, rộng 20 km).
  • Thổ nhưỡng: 6 nhóm đất chính gồm đất đỏ vàng trên bazan (45.000 ha), đất đỏ vàng trên granit (101.000 ha), đất xám và xám bạc màu (93.000 ha), đất phù sa (130.000 ha), đất cát đỏ và cát vàng (136.000 ha), đất mặn và nhiễm mặn (xấp xỉ 6.000 ha). Đất có độ dốc dưới 8° chiếm 58.705 ha.
  • Khí hậu: Nhiệt độ trung bình 25 - 27°C, số giờ nắng 2.500 - 3.000 giờ/năm, bốc hơi 800 - 1.500 mm/năm, độ ẩm 75 - 85%. Lượng mưa phân hóa mạnh theo không gian: vùng Phan Lý Chàm chỉ đạt 683 mm/năm, trong khi vùng Đức Linh - Tánh Linh đạt 2.000 - 2.600 mm/năm. Mùa mưa (tháng 5/6 đến tháng 11) chiếm 85% lượng mưa; mùa khô (tháng 12 đến tháng 4) chỉ chiếm 15% lượng mưa năm.
Vùng lãnh thổ Lượng mưa trung bình năm ($X_o$) Đặc điểm phân bố dòng chảy
Ven biển Bắc Phan Thiết đến Bắc tỉnh 600 - 800 mm (Phan Lý Chàm: 683 mm) Mùa cạn kéo dài 8 tháng; môđun dòng chảy 3 tháng kiệt < 0,5 l/s/$km^2$
Ven biển từ Phan Thiết đến Hàm Tân 1.000 - 1.600 mm (Phan Thiết: 980,5 mm) Mùa lũ chậm hơn mùa mưa 3 tháng; mùa cạn kéo dài 7 tháng
Đồi núi thấp Bắc Hàm Tân, Hàm Thuận Nam 1.600 - 1.800 mm (Hàm Tân: 1.563,4 mm) Dòng chảy tập trung vào mùa lũ tháng 8 - 11 (chiếm 76 - 80% cả năm)
Đức Linh - Tánh Linh (Sông La Ngà) 2.000 - 2.600 mm Dồi dào nhất tỉnh, nhận thêm 1,25 tỷ $m^3$ từ lưu vực ngoài
  • Thủy văn: 7 lưu vực sông chính với tổng diện tích lưu vực 9.980 $km^2$, tổng lượng nước 5,4 tỷ $m^3$/năm. Toàn bộ lượng mưa tiếp nhận đạt 11,3 tỷ $m^3$, nhưng chỉ tạo 4,1 tỷ $m^3$ dòng chảy mặt (63,8% bị bốc hơi hoặc ngấm). Trữ lượng tiềm năng nước ngầm toàn tỉnh ước đạt 238.500 $m^3$/ngày; tổng trữ lượng thiên nhiên nước nhạt dưới đất đạt 1.148.000 $m^3$/ngày (riêng sông La Ngà 1.048.000 $m^3$/ngày, đồi cát đỏ 113.000 $m^3$/ngày, cồn cát ven biển 19.000 $m^3$/ngày, trầm tích Bản Đôn 60.000 $m^3$/ngày). Hiện trạng khai thác tại các trạm: Liên Hương 800 $m^3$/ngày, Phan Rí Cửa 200 $m^3$/ngày, Mỹ Thạnh 200 $m^3$/ngày.
  • Sinh vật: Đất lâm nghiệp 550.327 ha (độ che phủ 49%), trữ lượng gỗ 25,27 triệu $m^3$, 25 triệu cây tre nứa. Trữ lượng cá biển 220.000 tấn (cá nổi 115.000 tấn, cá đáy 105.000 tấn, khả năng khai thác 110.000 - 120.000 tấn/năm); sò điệp quạt 50.000 tấn (khai thác 25.000 - 30.000 tấn/năm); sản lượng mực năm 1993 đạt gần 7.000 tấn; tôm biển ước tính 1.000 tấn.

Chương IV: Đặc điểm kinh tế - xã hội

Chương IV trình bày lịch sử thay đổi ranh giới hành chính qua các thời kỳ (thành lập tỉnh năm 1690, tách lập tỉnh Thuận Hải năm 1976 và tái lập tỉnh Bình Thuận theo Nghị quyết Quốc hội khóa VIII ngày 20/10/1991 gồm 9 đơn vị hành chính; thị xã Phan Thiết lên thành phố ngày 25/8/1999).

Dân số toàn tỉnh năm 1996 đạt 956.000 người, đến năm 1999 đạt khoảng 1.004.000 người. Từ năm 1990 đến tháng 7/1997 có 30.866 người di dân tự do vào tỉnh (chiếm 15% dân số toàn tỉnh; huyện Tánh Linh di dân chiếm trên 27%, Đức Linh và Hàm Tân trên 20%). Về kinh tế:

  • Nông nghiệp: Đất canh tác 91.200 ha (cây hàng năm 79.740 ha, cây lâu năm 11.460 ha; diện tích lúa 45.600 ha có 50% được tưới), sản lượng lương thực quy thóc 220.000 tấn, đào lộn hột 10.000 ha (hạt đào 2.000 tấn), đàn heo 110.000 con.
  • Khai khoáng và công nghiệp: Nước khoáng Vĩnh Hảo công suất 80 triệu lít/năm (sản xuất thành công tảo Spirulina); diện tích ruộng muối trên 450 ha (trên 300 ha muối công nghiệp tại Tuy Phong, Hàm Tân) đạt năng suất 140 - 160 tấn/ha; tiềm năng sa khoáng ilmenit - zircon, sét gạch ngói, cát thủy tinh.

Chương V: Độ mặn nguồn nước vùng ven biển tỉnh Bình Thuận

Chương V tập trung khảo sát 4 lưu vực sông chính vùng ven biển phía Nam:

Lưu vực sông Chiều dài Diện tích lưu vực Môđun dòng chảy cửa sông Công trình ngăn mặn / điều tiết hiện hữu
Sông Dinh 58 km 504 $km^2$ 13,8 l/s/$km^2$ Đập đá Dựng (cách cửa biển 3,5 km), đập Tân Xuân
Sông Phan 58 km 582 $km^2$ 15,1 l/s/$km^2$ Không có công trình; dòng chảy kiệt tắt dòng cách biển 5 - 6 km
Sông Cà Ty 56 km 453 $km^2$ 12,8 l/s/$km^2$ Đập Phú Hội (cách cửa biển 10,8 km) cấp nước Phan Thiết
Sông Cái Phan Thiết 71 km 1.050 $km^2$ 11,8 l/s/$km^2$ Đập sông Quao (trung lưu), đập bổi nhân dân (cách biển 7 - 8 km)

Về các nhân tố ảnh hưởng và quy luật diễn biến mặn:

  • Chế độ triều: Bán nhật triều không đều, biên độ triều cường 2,0 - 2,5 m. Độ mặn cực đại xuất hiện sau đỉnh triều 1 - 2 giờ; độ mặn cực tiểu xuất hiện sau chân triều 2 - 3 giờ. Trong tháng có 2 kỳ mặn tương ứng với 2 kỳ triều cường vào đầu tháng và giữa tháng âm lịch.
  • Lưu lượng thượng nguồn: Mùa cạn kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4/5 năm sau, lưu lượng kiệt về xấp xỉ 0 $m^3$/s (tháng 4/1992 sông Phan đạt 0 $m^3$/s, tháng 4/1993 đạt 0,025 $m^3$/s; sông Cà Ty giữa tháng 4 đến đầu tháng 5 năm 1992 và 1993 đều đạt 0 $m^3$/s tại vị trí cách Mương Mán 5 km).
  • Chế độ gió: Mùa gió Đông Bắc (tháng 10 đến tháng 4) với tốc độ trung bình 2,1 - 3,5 m/s (Phan Thiết đạt 3,5 m/s) làm tăng cường bốc hơi và đẩy triều mặn vào sâu; mùa gió Tây Nam hoạt động từ tháng 6 đến tháng 9.
  • Diễn biến mặn trên sông Dinh: Đo đạc tại 4 mặt cắt cho thấy độ mặn tăng từ tháng 11, đạt đỉnh cực đại vào các tháng 3, 4, 5 (tháng 4 cao nhất). Từ tháng 6, lượng mưa tăng làm độ mặn giảm nhanh xuống dưới 1‰ tại mặt cắt cách cửa sông 1,2 km. Tại mặt cắt cách cửa sông 1,5 km, độ mặn nhỏ nhất ghi nhận vào tháng 10 là 2,94‰ (đôi khi xuống 0,34‰). Ranh giới xâm nhập mặn bị chặn hoàn toàn tại đập đá Dựng (cách cửa 3,5 km).
  • Nước dưới đất ven biển: Tầng chứa nước cồn cát phân bố phân tán, mỏng, ranh mặn - nhạt biến động mạnh; đồi cát đỏ chứa nước nhạt ở độ sâu 60 - 130 m.

Chương VI: Đánh giá độ nhiễm mặn nguồn nước vùng ven biển tỉnh Bình Thuận

Chương VI tổng hợp đánh giá chất lượng nước sông và nước ngầm. Tác giả khẳng định quá trình xâm nhập mặn vào mùa kiệt diễn ra rất sâu do sông ngắn, dốc, lưu lượng thượng nguồn cạn kiệt kết hợp với triều cường và gió mùa Đông Bắc. Việc xây dựng các đập ngăn mặn tạm thời hoặc kiên cố (như đập đá Dựng, đập Phú Hội) đã giữ vai trò quyết định trong việc khống chế ranh giới mặn - nhạt trên sông. Nguồn nước dưới đất có nguy cơ suy thoái và mặn hóa nếu khai thác quá mức ở các dải cồn cát mỏng ven biển.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận rút ra các kết quả định lượng cụ thể:

  • Xác định quy luật phân hóa không - thời gian của xâm nhập mặn: Độ mặn đạt giá trị cao nhất trong 3 tháng kiệt (tháng 3, 4, 5), với cực đại rơi vào tháng 4 khi lưu lượng dòng chảy thượng nguồn tại trạm Mương Mán và sông Phan suy giảm về mức 0 $m^3$/s. Độ mặn giảm rõ rệt từ tháng 6 và đạt giá trị thấp nhất vào các tháng lũ chính vụ 8, 9, 10 (thấp nhất tháng 10).
  • Xác định ranh giới xâm nhập mặn trên các lưu vực sông nghiên cứu:
    • Sông Dinh: Ranh mặn bị khống chế tại đập đá Dựng (cách biển 3,5 km).
    • Sông Cà Ty: Ranh mặn bị chặn lại ở đập Phú Hội (cách biển 10,8 km).
    • Sông Cái Phan Thiết: Ranh mặn được giới hạn bởi các đập bổi ngăn mặn của nhân dân (cách biển 7 - 8 km).
    • Sông Phan: Không có đập ngăn mặn, dòng chảy kiệt bị đứt đoạn cách cửa biển 5 - 6 km khiến triều mặn chi phối toàn bộ hạ lưu.
  • Đánh giá trữ lượng và hiện trạng nước dưới đất: Trữ lượng tự nhiên nước nhạt toàn tỉnh là 1.148.000 $m^3$/ngày, nhưng phân bố không đều; vùng đồi cát đỏ có tiềm năng lớn nhất (113.000 $m^3$/ngày) nhưng phân bố sâu (60 - 130 m), trong khi dải cồn cát ven biển trữ lượng thấp (19.000 $m^3$/ngày) và dễ nhiễm mặn.

Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất:

  • Phân vùng sử dụng đất và chuyển dịch cơ cấu sản xuất: Chuyển đổi vùng nhiễm mặn sâu sang nuôi trồng thủy sản nước lợ và sản xuất muối công nghiệp quy mô lớn tại Tuy Phong, Hàm Tân; bố trí mùa vụ nông nghiệp phù hợp với thời điểm dòng chảy ngọt hồi phục (tháng 6 đến tháng 11).
  • Xây dựng công trình thủy lợi: Kiên cố hóa các công trình ngăn mặn giữ ngọt tại các cửa sông (như hoàn thiện đập sông Quao, hệ thống đập trên sông Dinh và sông Cà Ty), ngăn chặn việc tắt dòng mùa kiệt.
  • Bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn: Phục hồi 150.000 ha đất quy hoạch lâm nghiệp để gia tăng khả năng giữ nước, điều tiết dòng chảy kiệt và chống sa mạc hóa ở các huyện phía Bắc.
  • Quản lý khai thác nước ngầm: Hạn chế khai thác tầng nông ven biển để tránh xâm nhập mặn tầng chứa nước; ưu tiên khai thác tầng sâu ở đồi cát đỏ phục vụ sinh hoạt đô thị.

Đóng góp của khóa luận:

  • Tổng hợp có hệ thống các tài liệu khảo sát, đo đạc thủy văn và độ mặn giai đoạn 1980 - 1993 trên địa bàn ven biển tỉnh Bình Thuận.
  • Tạo nguồn tài liệu thực địa và số liệu cụ thể phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn tài liệu giảng dạy Địa lý địa phương tỉnh Bình Thuận cho sinh viên Sư phạm Địa lý.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài theo văn bản công bố:

  • Khảo sát thực địa chỉ mới thực hiện tại một số điểm chính, chưa tổ chức khảo sát đồng bộ theo các tuyến đo dọc sông do hạn chế về thời gian, kinh phí, phương tiện và kinh nghiệm của sinh viên.
  • Chuỗi số liệu đo mặn trực tiếp trên các mặt cắt sông chủ yếu tập trung trong các năm 1991, 1992 và 1993; chưa bao quát liên tục nhiều năm để xây dựng mô hình dự báo dài hạn.
  • Đánh giá trữ lượng nước dưới đất ở một số cấu trúc địa chất nứt nẻ (như trầm tích Bản Đôn) còn gặp khó khăn do tính không đồng nhất của đá nứt nẻ.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng mạng lưới quan trắc độ mặn đồng bộ theo không gian và thời gian trên toàn bộ 7 hệ thống sông của tỉnh.
  • Đánh giá sâu tác động của các hồ chứa nước nhân tạo mới vận hành đối với sự dịch chuyển ranh giới mặn - nhạt vùng cửa sông và các tầng nước dưới đất ven biển.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Địa lý học, Sư phạm Địa lý, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Thủy văn học: Tham khảo phương pháp tiếp cận địa lý tổng hợp, quy trình xử lý số liệu khí tượng - thủy văn và phương pháp xây dựng chuyên đề địa lý tự nhiên địa phương.
  • Cán bộ kỹ thuật ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Thủy lợi: Khai thác chuỗi số liệu nền về đặc trưng dòng chảy kiệt, biên độ triều và diễn biến mặn tại các cửa sông Dinh, sông Phan, sông Cà Ty, sông Cái Phan Thiết.
  • Các nhà quy hoạch địa phương: Sử dụng các đánh giá về giới hạn ranh mặn và tiềm năng nước dưới đất để hoạch định phương án cấp nước sinh hoạt và bố trí cơ cấu cây trồng, nuôi trồng thủy sản ven biển Bình Thuận.

Câu hỏi thường gặp

1. Những nhân tố tự nhiên nào quyết định mức độ xâm nhập mặn sâu tại các cửa sông tỉnh Bình Thuận trong mùa khô?
Xâm nhập mặn chịu tác động tổng hợp của 4 nhân tố chính:

  • Dòng chảy thượng nguồn cạn kiệt trong các tháng 2, 3, 4 (lưu lượng kiệt về 0 $m^3$/s trên sông Phan và sông Cà Ty).
  • Chiều dài sông ngắn, độ dốc lớn và mật độ mạng lưới sông thưa thớt.
  • Chế độ bán nhật triều không đều với biên độ triều cường đạt 2,0 - 2,5 m đẩy nước biển vào sâu.
  • Gió mùa Đông Bắc hoạt động mạnh (tốc độ trung bình 2,1 - 3,5 m/s) làm gia tăng lượng bốc hơi (800 - 1.500 mm/năm) và hỗ trợ sóng triều dồn nước mặn vào nội đồng.

2. Độ mặn trên các sông biến đổi theo thời gian trong ngày và trong năm như thế nào?

  • Trong ngày: Độ mặn cực đại xuất hiện sau đỉnh triều 1 - 2 giờ; độ mặn cực tiểu xuất hiện sau chân triều 2 - 3 giờ.
  • Trong tháng: Xuất hiện 2 kỳ mặn cao nhất trùng với 2 kỳ triều cường vào đầu tháng và giữa tháng âm lịch.
  • Trong năm: Mùa cạn (tháng 11 đến tháng 5 năm sau) độ mặn tăng cao, đạt đỉnh vào tháng 4. Mùa lũ (tháng 8 đến tháng 11) dòng chảy thượng nguồn dồi dào đẩy mặn ra biển, độ mặn giảm sâu nhất vào tháng 10 (tại sông Dinh cách cửa 1,5 km đạt 2,94‰, có thời điểm xuống 0,34‰).

3. Vị trí ranh giới ngăn mặn trên các lưu vực sông nghiên cứu được xác định ở đâu?

  • Sông Dinh: Ranh mặn bị khống chế tại đập đá Dựng cách cửa biển 3,5 km.
  • Sông Cà Ty: Ranh mặn bị chặn tại đập Phú Hội cách cửa biển 10,8 km.
  • Sông Cái Phan Thiết: Ranh mặn bị chặn bởi các đập bổi do nhân dân tự đắp cách cửa sông 7 - 8 km.
  • Sông Phan: Không có đập ngăn mặn; khi thượng nguồn tắt dòng cách biển 5 - 6 km, toàn bộ vùng hạ lưu này bị nước triều mặn chi phối hoàn toàn.

4. Tiềm năng và hiện trạng khai thác nước dưới đất vùng ven biển Bình Thuận được văn bản ghi nhận ra sao?
Tổng trữ lượng tự nhiên nước nhạt dưới đất của tỉnh là 1.148.000 $m^3$/ngày, trong đó lưu vực sông La Ngà chiếm 1.048.000 $m^3$/ngày, đồi cát đỏ đạt 113.000 $m^3$/ngày (nằm sâu 60 - 130 m), dải cồn cát ven biển đạt 19.000 $m^3$/ngày (tầng nông, chất lượng không ổn định). Tổng trữ lượng tiềm năng khai thác là 238.500 $m^3$/ngày. Mức độ khai thác thực tế còn rất nhỏ với một số trạm chính: Liên Hương (800 $m^3$/ngày), Phan Rí Cửa (200 $m^3$/ngày) và xã Mỹ Thạnh (200 $m^3$/ngày).

5. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và tài nguyên sinh vật biển của tỉnh có đặc điểm gì nổi bật?
Bình Thuận có 91.200 ha đất canh tác nông nghiệp (79.740 ha đất cây hàng năm, 45.600 ha đất trồng lúa với 50% diện tích được tưới; 10.000 ha điều thu hoạch 2.000 tấn hạt). Về sinh vật biển, tỉnh có trữ lượng cá 220.000 tấn (cho phép khai thác 110.000 - 120.000 tấn/năm), sò điệp quạt 50.000 tấn (khai thác 25.000 - 30.000 tấn/năm), sản lượng mực năm 1993 đạt gần 7.000 tấn và trữ lượng tôm biển ước khoảng 1.000 tấn.

Kết luận

Khóa luận đã phân tích toàn diện hiện trạng nhiễm mặn nguồn nước mặt và nước dưới đất vùng ven biển tỉnh Bình Thuận trên cơ sở điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và chuỗi dữ liệu thủy văn thực tế. Nghiên cứu làm rõ quy luật biến động độ mặn theo mùa và chứng minh vai trò kiểm soát ranh mặn của các công trình đập ngăn mặn hiện hữu trên các lưu vực sông Dinh, sông Cà Ty và sông Cái Phan Thiết. Đây là công trình nghiên cứu địa lý tự nhiên có giá trị khoa học thực tiễn, cung cấp luận cứ cho việc quy hoạch thủy lợi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - ngư nghiệp và phục vụ công tác giảng dạy địa lý địa phương.