Chương 1 đã trình bày lý do nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và các mục tiêu cần đạt được. Để đạt được những mục tiêu đó, cần phải xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp. Việc này đòi hỏi phải dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trước đó, tham khảo và chỉ ra lỗ hổng học thuật để thể hiện được những yếu tố nào phù hợp hay không phù hợp với nợ xấu tại Việt Nam. Vì vậy, những nội dung trong chương 2 sẽ trình bày giới thiệu về tổng quan rủi ro tín dụng và nợ xấu của hệ thống NHTM, các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu, các lý thuyết liên quan và kết quả các nghiên cứu trước.
Đó sẽ là cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu trong chương sau.1 KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Rủi ro tín dụng và các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng 2.1 Tổng quan về tín dụng và rủi ro tín dụng Theo Nguyễn Đăng Dờn (2004), tín dụng là quan hệ giao dịch phát sinh giữa người đi vay và người cho vay, trong đó người cho vay chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian quy định, đồng thời bên còn lại là người đi vay cam kết hoàn trả tiền, tài sản theo thời hạn và lãi suất đã quy định. Quan hệ tín dụng từ lâu đã được hình thành và sử dụng rộng rãi. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các hình thức tín dụng mới ngày càng được ra đời, phát triển để đạt được trình độ cao hơn. Có thể kể ra một số các hình thức tín dụng đã xuất hiện và đang tồn tại hiện nay như: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng.
Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng là một hình thức quan trọng và chủ yếu, cung cấp một phần rất lớn nhu cầu tín dụng cho các doanh nghiệp và các cá nhân khác trong nền kinh tế. Có thể định nghĩa rằng: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với xí nghiệp; tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với các đối tượng 7 nói trên”. Theo Nguyễn Văn Tiến (2015), tín dụng ngân hàng có các đặc trưng cơ bản. Một là: sự tin tưởng, tín nhiệm giữa ngân hàng và khách hàng; Hai là: tính thời hạn và hoàn trả.
Cụ thể hơn: Sự tin tưởng: giữa ngân hàng và khách hàng đòi hỏi mức độ tin tưởng cao, bởi lẽ giao dịch tín dụng mà không có sự tin tưởng thì sẽ chứa đựng nhiều rủi ro và hậu quả vô cùng xấu. Khách hàng vay không chỉ là người đáng tin cậy theo những tiêu chuẩn đạo đức xã hội, pháp luật mà họ còn phải chứng minh được khả năng và thiện chí trả nợ. Sự tin tưởng của ngân hàng đối với khách hàng ở đây dùng để khẳng định về khả năng thu hồi vốn và lãi. Tính thời hạn và hoàn trả: quan hệ tín dụng là sự vận động độc lập tương đối giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn.
Chính vì đặc trưng này mà mối quan hệ tín dụng được xác định là mối quan hệ tạm thời, khách hàng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc thanh toán các khoản vay và lãi đúng hạn theo cam kết. Khi một trong hai đặc trưng trên bị vi phạm sẽ dẫn đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Theo Nguyễn Văn Tiến (2015), khi nói tới rủi ro tín dụng của ngân hàng, chúng ta có thể hiểu như sau: rủi ro tín dụng trong hợp đồng ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.1 Thông tư 02/2013/TT-NHNN, ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Nói tóm lại, rủi ro tín dụng sẽ phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc lẫn lãi của khoản vay hoặc thu về không đúng hạn như cam kết.
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động khác như bảo lãnh, tài trợ thương mại, cho vay liên ngân hàng, đồng tài trợ dự án. Tuy nhiên phạm vi luận văn chỉ đề cập tới rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng.2 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng Tăng trưởng tín dụng “nóng”: không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp rủi ro tín dụng nhưng sự tăng trưởng tín dụng quá nhanh, khiến ngân hàng không đủ khả năng kiểm soát thì lúc đó nó sẽ phản ánh rủi ro tín dụng. Tăng trưởng tín dụng “nóng” được thể hiện qua các chỉ tiêu như: (i) Tốc độ tăng dư nợ tín dụng / Tốc độ tăng tổng tài sản và (ii) Tốc độ tăng dư nợ tín dụng/ Tốc độ tăng trưởng kinh tế… Phát triển cơ cấu tín dụng vào các ngành và lĩnh vực rủi ro: cơ cấu tín dụng phản ảnh mức độ tập trung tín dụng vào một lĩnh vực, ngành nghề mà những lĩnh vực, ngành nghề này chứa đựng mạo hiểm, rủi ro cao sẽ phản ảnh rủi ro tín dụng tiềm năng. Cơ cấu tín dụng có thể được phân loại theo ngành, loại hình cho vay, thời hạn tín dụng, loại tài sản đảm bảo.
Nợ quá hạn: là một trong những chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng. Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến hạn trả nợ theo cam kết, người vay không có khả năng trả nợ. Nợ quá hạn được phản ánh qua hai chỉ tiêu: (i) Số dư nợ quá hạn/ Tổng dư nợ; (ii) Số khách hàng có nợ quá hạn/ Tổng số khách hàng có dư nợ. Nếu ngân hàng có hai chỉ tiêu này lớn thì ngân hàng đó đang có mức rủi ro tín dụng cao và ngược lại.
Nợ xấu: là các khoản tiền ngân hàng cho khách hàng vay xuất hiện khả năng không thu hồi lại được. Các khoản nợ này phát sinh từ phía ngân hàng như không kĩ càng trong thẩm định; hoặc từ phía khách hàng như doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản,… Nợ xấu sẽ phản ánh rõ nét rủi ro tín dụng thông qua việc đánh giá cả thời gian quá hạn của khoản vay cũng như tiêu chí phân loại rủi ro của khoản vay. Dự phòng rủi ro tín dụng: đánh giá khả năng chi trả của ngân hàng khi xảy ra rủi ro. Mục đích của việc dự phòng là nhằm bù đắp những thiệt hại khi rủi ro tín dụng cho một khoản vay xảy ra.2 Nợ xấu của các NHTM 2.1 Các quan điểm về nợ xấu của NHTM và phân loại nợ Các quan điểm về nợ xấu: có rất nhiều quan điểm khác nhau khi đề cập đến nợ xấu.
Thuật ngữ “nợ xấu” (viết tắt là NPL – Non-performing loans) có thể thay thế bằng nợ khó đòi (Fofack, 2005), hoặc các khoản vay có vấn đề (Berger và De Young, 1997), là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn thu 9 hồi vốn của chủ nợ. Theo Ernst & Young (2004), nợ xấu có thể được định nghĩa là các khoản nợ không trả được (defauted loans) mà ngân hàng không thể thu lợi từ nó. Do đó, quan điểm về nợ xấu có sự khác biệt ở mỗi quốc gia và mỗi nền kinh tế dưới góc nhìn của các cá thể khác nhau. Dưới góc nhìn của các NHTM: Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng sinh lời hay những khoản cho vay không còn hoạt động (NPLs: non – performing loans).
Theo quan điểm về nợ xấu của NHTW Châu Âu (ECB): “Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi hoặc là những khoản cho vay có thể không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng”. Như vậy, ECB nhìn nhận nợ xấu dựa trên kết quả trả nợ cuối cùng của khách hàng đối với ngân hàng. Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”. Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ đáng nghi ngờ.
Theo tiêu chuẩn kế toán và ngân hàng quốc tế IAS 39: thường đề cập đến khái niệm này như những khoản cho vay bị tổn thất (loans being impaired) hơn là cụm từ “nợ xấu” (non – performing loans). Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV): Quyết định số 493/2005 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 22/4/2015 được định nghĩa như sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)”. Về việc phân loại nợ: hầu hết các quốc gia đều đang áp dụng phương pháp phân loại nợ thành 5 nhóm: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn. Tại Việt Nam, việc phân loại các khoản vay được quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN Điều 10 (phương pháp định lượng) và Điều 11 (phương pháp định tính) 10 Phương pháp định tính Nhóm 1: Các khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn.
Nhóm 2: Các khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm về khả năng trả nợ. Nhóm 3: Các khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn, có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi. Nhóm 4: Các khoản nợ được đánh giá là khả năng tổn thất cao Nhóm 5: Các khoản nợ được đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Phương pháp định lượng Nhóm 1: Các khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn.