Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương này sẽ nêu cơ sở việc chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, tóm lược phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và bố cục của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của NHTM tại Việt Nam. Chương này sẽ nêu các cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng và khả năng sinh lời trong NHTM.
Đồng thời, trình bày các dẫn chứng là kết quả của các nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời. Chương 3: Xây dựng mô hình nghiên cứu. 5 Chương này nêu ra các cơ sở dữ liệu để thực hiện nghiên cứu, cách thức đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu và công việc thu thập dữ liệu được thực hiện như thế nào. Chương 4: Thực hiện và phân tích kết quả mô hình nghiên cứu.
Chương này thực hiện thống kê mô tả các biến trong mô hình, kiểm định mô hình nghiên cứu đồng thời thảo luận về kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Chương này tóm tắt các vấn đề, các kết quả nghiên cứu chính của đề tài, những khuyến nghị cho các NHTMVN và gợi ý các chính sách liên quan đến quản trị rủi ro tín dụng. Đồng thời, tác giả cũng trình bày các hạn chế mà đề tài chưa thực hiện được và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NHTM TẠI VIỆT NAM. Trong chương này, tác giả sẽ nêu các cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng, khả năng sinh lời của NHTM và các tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của NHTM. Đồng thời, trình bày các dẫn chứng là kết quả của các nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời.1 Khả năng sinh lời của NHTM 2.1 Khái niệm khả năng sinh lời của NHTM Theo Rose (2002), mục tiêu hoạt động của ngân hàng là tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được quan tâm hơn cả vì khi lợi nhuận ngân hàng cao sẽ bảo toàn được vốn, góp phần tăng thị phần và thu hút các nhà đầu tư.
Nhiều tác giả đề cập tới khái niệm của khả năng sinh lời trong các nghiên cứu trước đây. Điển hình là Rose (2002) đã nêu như sau: “Khả năng sinh lời là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng sinh lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện.
Khả năng sinh lời có thể áp dụng cho một hay một tập hợp tài sản.” Ở cấp độ ngân hàng, khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản tài chính và tài sản vật chất, tức là vốn kinh tế mà ngân hàng nắm giữ. Nhìn chung, khả năng sinh lời cần ít nhất đủ, nhằm đáp ứng hai đòi hỏi quan trọng là đảm bảo duy trì được vốn cho ngân hàng, trả được các khoản gốc và lãi cho các nguồn vốn huy động. Lãi thu được từ các hoạt động sinh lời trong năm có thể được trích ra chia cho các cổ đông hay sẽ được duy trì dưới dạng vốn dự trữ. Nếu không tính tới thuế và lãi, khả năng sinh lời của tài sản phải cho phép tích lũy đủ số tiền nhằm đảm bảo vốn 7 kinh doanh, hoàn trả nợ, đóng góp vào việc tăng vốn và trả lợi nhuận đầu tư vốn cho các cổ đông.
Mọi quyết định và thay đổi về việc nắm giữ tài sản không chỉ làm nảy sinh vấn đề tài chính mà còn cả vấn đề sinh lợi. Do đó, khả năng sinh lời của tài sản chỉ là một phần vấn đề nảy sinh từ khả năng sinh lời của các nguồn vốn thực hiện. Trên thực tế, rủi ro trong hoạt động ngân hàng do các cổ đông gánh chịu. Lợi nhuận mà họ thu được không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lời của tài sản mà còn phụ thuộc vào chi phí huy động vốn.2 Các chỉ số đo lường khả năng sinh lời Khả năng sinh lời được đo lường bằng nhiều phương pháp khác nhau.
Một số chỉ tiêu phổ biến như khả năng sinh lời trên tổng tài sản (tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản) – ROA, khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu (tỷ lệ thu nhập ròng trên vốn chủ sở hữu) – ROE, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên – NIM. Các tỷ lệ đo lường khả năng sinh lời được sử dụng trong các trường hợp khác nhau và phản ánh ý nghĩa không khác nhau đáng kể. Tuy nhiên, ROA và ROE là hai tỷ lệ phổ biến thường được áp dụng để đo lường khả năng sinh lời theo các nghiên cứu trước đây.1 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản – ROA Tỷ suất sinh lời trên tài sản đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau thuế, không phân biệt tài sản này được hình thành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sỡ hữu. ROA là suất sinh lời trên tài sản của ngân hàng sau tác động của thuế nhưng chưa có tác động của nợ.
Đồng thời, thể hiện được sự hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận của ngân hàng. Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản bình quân (2.1) ROA là suất sinh lời trên tài sản của ngân hàng sau thuế, do đó chịu ảnh hưởng bởi chính sách thuế thu nhập. Tuy nhiên, ROA lại không chịu ảnh hưởng của cơ cấu vốn vì là suất sinh lời sau thuế với giả định không sử dụng nợ. ROA cao phản ánh kết quả hoạt động hiệu quả, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh 8 hoạt giữa các khoản mục trên tài sản có trước những biến động nền kinh tế.
Ngược lại, ROA thấp là kết quả của chính sách đầu tư và cho vay không hiệu quả hay do chi phí ngân hàng cao. Để tăng ROA, các ngân hàng cần phải tìm cách gia tăng các khoản mục có sinh lời. Và vì mục đích chính là tối đa hóa lợi nhuận mà ngân hàng buộc phải tăng các khoản đầu tư tín dụng, khoản chứa nhiều rủi ro. Do đó, ROA càng cao thể hiện mức độ rủi ro cao từ tổng tài sản có.
Khả năng sinh lời trên tổng tài sản được sử dụng nhiều trong các bài nghiên cứu trước đây nhằm làm biến đại diện cho khả năng sinh lời như Owoputi (2014) dựa trên số liệu thứ cấp của các ngân hàng tại Nigeria giai đoạn từ 1998 đến 2012 để đi tìm các tác động đến khả năng sinh lời trong ngân hàng hay nghiên cứu của Alshatti (2015) về mối quan hệ giữa việc quản lí rủi ro tín dụng và hoạt động tài chính của 13 ngân hàng tại Jordan.2 Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu – ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu ngân hàng, thể hiện lợi nhuận sau khi đã trừ thuế thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng. Lợi nhuận ròng ROE = Vốn chủ sỡ hữu bình quân (2.2) ROE có liên quan đến chi phí lãi vay, liên quan đến chi phí thuế thu nhập của ngân hàng, vì vậy đây là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả việc ngân hàng sử dụng đồng vốn của các cổ đông, ngân hàng đã có cân đối hài hòa giữa vốn huy động và vốn cổ đông nhằm khai thác lợi thế cạnh tranh của chính ngân hàng mình trong quá trình kinh doanh. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cố phiểu càng hấp dẫn các nhà đầu tư. Qua đó khi tính toán được hệ số này, các nhà đầu tư có thể đánh giá như sau: - ROE lớn hơn lãi suất huy động của ngân hàng thì cần phải xem xét rằng ngân hàng đã vay nợ và khai thác hết lợi thế cạnh trạng trên thị trường hay 9 chưa để từ đó đánh giá xem hệ số ROE của ngân hàng này có còn tăng trong tương lai hay không.
- ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất huy động của ngân hàng, ngân hàng có khoản vay nợ tương đương hay cao hơn vốn cổ đông thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ nhằm chi trả lãi. Cũng như ROA, ROE thường được sử dụng làm đại diện cho khả năng sinh lời của ngân hàng trên thế giời qua các bài nghiên cứu Gizaw và cộng sự (2015) về tác đông của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời tại 8 NHTM ở Ethiopia hay của Hosna và cộng sự (2009) khi viết về quản lí tín dụng và khả năng sinh lời tại các ngân hàng Thụy Điển.2 Rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Trong các rủi ro của ngân hàng thì rủi ro tín dụng được cho là rủi ro quan trọng nhất vì nguy cơ cao nhất ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng. Agarwal (2015) khẳng định rủi ro tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu tại các ngân hàng, do đó càng thấy rõ hơn tầm quan trọng của nó trong cuộc khủng hoảng tài chính. Rủi ro tín dụng thường xảy ra trong giao dịch tiền vay, bên vay không trả cho các khoản nợ gốc và lãi trong khoảng thời gian đã định (Koch và Macdonald (2014)).
Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thường xem xét chất lượng tài sản có và đặc biệt là nợ xấu ngân hàng: Fitch (2000) định nghĩa rủi ro tín dụng xảy đến khi người vay không thanh toán được nợ theo các thỏa thuận đã được quy định trong hợp đồng, dẫn đến sai hẹn trong việc trả nợ. Cùng với các loại rủi ro khác, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Theo Greuing và Bratanovic (1999), rủi ro tín dụng được hiểu là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi cũng như hoàn trả vốn gốc so với thời hạn trọng hợp đồng tín dụng của ngân hàng. Điều này gây ra sự cố với dòng chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.