Chương 1 được thiết lập với mục đích giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, đặc biệt nêu rõ lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của đề tài. Bên cạnh đó, mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể, kèm theo việc đề ra các câu hỏi nghiên cứu để làm sáng tỏ các mục tiêu đã đề ra. Chương này cũng chỉ ra đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, đồng thời trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng và đóng góp của nghiên cứu này về mặt khoa học và thực tiễn. TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Tổng quan các khái niệm về nợ xấu của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm ngân hàng thương mại Tại Việt Nam, theo Luật Các tổ chức tín dụng được ban hành năm 2010 và sửa đổi bổ sung năm 2017, định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Theo Hoàng Thị Minh Ngọc (2012), “NHTM là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy, NHTM đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính, là chủ thể trung gian sử dụng nguồn vốn huy động được từ khách hàng để dùng vào các hoạt động nghiệp vụ như đầu tư, cho vay. Thông qua hoạt động tín dụng thì NHTM đã tạo ra lợi ích cho cả người gửi tiền, người vay tiền và chính bản thân ngân hàng thông qua việc tận dụng chênh lệch lãi suất, từ đó thu được lợi nhuận cho ngân hàng.
Khái niệm nợ xấu Hoạt động tín dụng, đặc biệt là cho vay, là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các hoạt động của NHTM. Theo Lê Văn Tư và cộng sự (2000), hoạt động cho vay là việc NHTM được cho các cá nhân và tổ chức vay vốn dưới hình thức cho vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn tuỳ theo mục đích và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Hoạt động này giúp cho các NHTM sinh lời và mang lại nguồn thu nhập chính để có thể duy trì hoạt động của mình. Đây cũng là một trong những nghiệp vụ rủi ro nhất, vì nếu không kiểm soát tốt các khoản vay sẽ gây tổn thất nặng nề cho ngân hàng.
7 Nợ xấu luôn đang trở thành một vấn đề nóng đối với các nhà kinh tế, nhà đầu tư, nhà quản trị ngân hàng, và hệ thống tài chính của các quốc gia trên thế giới. Nợ xấu có thể dẫn đến sự suy giảm của hệ thống ngân hàng, gây ra rủi ro cho sự ổn định tài chính và kinh tế của một quốc gia (Patrick Honohan, 1997). Sự tích tụ của nợ xấu có thể gây ra những tác động tiêu cực đến sức khỏe tài chính của các tổ chức và cá nhân, ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và kinh tế nói chung. Theo Financial Soundness Indicators (2004) của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra quan điểm về nợ xấu như sau: Một khoản vay được cho là nợ xấu khi đã quá hạn 90 ngày việc thanh toán gốc hoặc lãi; hay khi lãi được tích luỹ (hoặc được thêm vào gốc), tái cơ cấu hoặc gia hạn trong ít nhất 90 ngày hoặc lâu hơn; hoặc khi đến hạn chậm hơn 90 ngày nhưng người vay có những dấu hiệu thể hiện rõ ràng rằng họ không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ của mình.
Theo Guidance to banks on non-performing loans (2017) của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) thì nợ xấu được định nghĩa là khoản vay thoả mãn 1 trong 2 điều kiện sau: (a) các khoản vay quá hạn hơn 90 ngày; (b) Người nợ được đánh giá là không có khả năng thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ nợ của mình, không cần đến bất kỳ tài sản đảm bảo nào, kể cả chưa đến hạn hay đã đến hạn 90 ngày. Nợ xấu theo quan điểm của Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra thời gian cụ thể để khoản vay bị coi là nợ xấu (có thể là 30 – 89 ngày, 90 – 179 ngày hay trên 180 ngày, tuỳ thuộc vào quy định của từng quốc gia), mà cho rằng “khoản nợ đã quá hạn và ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi”. Hiện chưa có định nghĩa cụ thể cho khái niệm nợ xấu tại Việt Nam. Thay vào đó, thông qua thông tư 11/2021/TT-NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng đã gián tiếp nhận định nợ xấu.
Theo đó, khoản vay được xác định là nợ xấu khi thuộc nhóm nợ 3, 4 và 5 (tức là đã quá hạn trên 90 ngày) lần lượt được phân loại vào các nhóm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. 8 Tóm lại, tuy có nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa về nợ xấu, nhưng chung quy lại thì các giữa các quan điểm trên đều có sự tương đồng, và Việt Nam hiện đã bám sát với tiêu chuẩn quốc tế và thực tiễn áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Cơ bản các quan điểm trên đều tập trung vào việc xác định các khoản vay quá hạn và đánh giá khả năng thanh toán của người vay Từ các quan điểm trên, tác giả có kết luận như sau về khái niệm nợ xấu: Nợ xấu là các khoản vay quá hạn hơn 90 ngày hoặc các khoản vay chưa đến hạn 90 ngày nhưng khách hàng có những dấu hiệu mất khả năng thanh toán khi đến hạn. Phân loại nợ xấu Các TCTD phân loại nợ theo phương pháp định lượng dựa trên tiêu chí thời gian quá hạn các khoản nợ.
Dựa vào Khoản 1 Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN có quy định về việc phân loại các nhóm nợ theo phương pháp định lượng như bảng sau: Bảng 2. Phân loại nợ theo phương pháp định lượng theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN Nhóm nợ Phân loại Thời gian 1 Nợ đủ tiêu chuẩn Dưới 10 ngày 2 Nợ cần chú ý Từ 10 - 90 ngày 3 Nợ dưới tiêu chuẩn Từ 91 – 180 ngày 4 Nợ nghi ngờ Từ 181 – 360 ngày 5 Nợ có khả năng mất vốn Trên 360 ngày Nguồn: Thông tư 11/2021/TT-NHNN Trong đó nhóm 1 được đánh giá là nhóm có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc lẫn lãi đúng hạn. Nhóm 2 là nhóm nợ đã quá hạn 90 ngày và khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu còn trong hạn. Các khoản nợ thuộc nhóm nợ 3, 4, 5 được coi là nợ xấu, khi khách hàng không có đủ khả năng hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ nợ.
Tuy nhiên, khi khả năng thanh toán khoản vay của khách hàng suy giảm thì ngân hàng có thể chủ động tự điều chỉnh lại xếp hạng nhóm nợ của người vay. 9 Theo phương pháp định tính thì nợ xấu cũng được chia thành 5 nhóm lần lượt là: nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Phương pháp phân loại này dựa trên tiêu chí đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng trên cơ sở kết quả hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, chính sách dự phòng rủi ro. Tương tự như phương pháp định lượng, nợ xấu bao gồm nợ nhóm 3, 4, 5.
Việc phân loại nợ của Việt Nam có sự thống nhất với các quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Nhật, Trung Quốc, Singapore… Tuy nhiên, phương pháp định tính không được các ngân hàng sử dụng nhiều mà thay vào đó họ ưu tiên sử dụng phương pháp định lượng vì nó dễ đo lường và phân loại hơn. Chỉ tiêu đo lường nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu cho biết trong 100 đồng dư nợ thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu. Đây là một chỉ số quan trọng trong ngành ngân hàng, phản ánh mức độ rủi ro mà ngân hàng đang phải đối mặt, cho biết khả năng của ngân hàng trong việc quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng. Theo thông tư 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 và mức tỷ lệ nợ xấu dưới 3% là mục tiêu mà NHNN đề ra để các ngân hàng bám sát và thực hiện.
Theo đó, tỷ lệ nợ xấu được đo lường như sau: 𝐍ợ 𝐧𝐡ó𝐦 𝟑 + 𝐍ợ 𝐧𝐡ó𝐦 𝟒 + 𝐍ợ 𝐧𝐡ó𝐦 𝟓 𝐓ỷ 𝐥ệ 𝐧ợ 𝐱ấ𝐮 = 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐝ư 𝐧ợ 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu 2. Các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến nợ xấu Tỷ lệ thất nghiệp Khi tỷ lệ thất nghiệp tăng đồng nghĩa với việc tỷ lệ người dân không có việc làm tăng cao. Do đó thu nhập của người dân sẽ suy giảm khi thất nghiệp, điều này ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành các nghĩa vụ trả nợ của khách hàng, dẫn đến tăng nguy cơ hình thành nợ xấu.
Theo Irena Szarowska (2018) nghiên cứu về các yếu tố tác động đến nợ xấu, thực nghiệm tại 11 nước ở Trung Âu và Đông Âu giai đoạn 1999 – 2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thất nghiệp là yếu tố quan 10 trọng nhất tác động đến nợ xấu và cũng chỉ ra rằng nợ xấu và tỷ lệ thất nghiệp có mối quan hệ cùng chiều. Điều này có nghĩa là khi tỷ lệ thất nghiệp tăng, thì cơ hội phát sinh nợ xấu cũng tăng lên, và ngược lại. Tăng trưởng kinh tế (GDP) Khi nền tăng trưởng kinh tế tốt sẽ kích thích hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động kinh doanh hiệu quả, từ đó tăng khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của ngân hàng, giảm khả năng hình thành nợ xấu.
Ngược lại, nền kinh tế tăng trưởng kém, điều này gây ảnh hưởng đến thu nhập của người dân, thu nhập giảm là cho khả năng trả nợ của khách hàng giảm, tăng nguy cơ hình thành nợ xấu. Theo các nghiên cứu của N. Hằng và cộng sự (2020), B. Huyền (2022) đã đưa ra các bằng chứng thực nghiệm và đưa ra kết quả tăng trưởng kinh tế có quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu.
Tỷ lệ lạm phát Khi tỷ lệ lạm phát tăng, giá cả hàng hoá trên thị trường từ đó cũng tăng theo, người dân sẽ giảm tiêu dùng và chi tiêu thận trọng hơn.