CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan các loại vật liệu hai chiều và phương pháp chế tạo Vật liệu hai chiều có ba loại chính [1]: (i) Vật liệu van der Waals (van der Waals solid) là vật liệu có cấu tạo từ nhiều màng hai chiều có tương tác giữa các nguyên tử hay phân tử trong mỗi màng hai chiều là các tương tác ion hay tương tác cộng hóa trị và tương tác giữa màng với màng hoặc giữa màng và chất nền là tương tác yếu van der Waals (~ 40 – 70 meV). Điều này cho phép tạo ra các màng đơn bằng cách bóc tách từng lớp một. Và một trong các phương pháp phổ biến để thu được một hay một vài lớp màng vật liệu hai chiều là phương pháp “Scotch tape”.
Phương pháp này nói chung sử dụng dung môi hóa học có sức căng bề mặt phù hợp để bóc từng lớp nguyên tử hoặc phân tử ra khỏi khối vật liệu hai chiều. Phương pháp này thường được dùng để tạo và nghiên cứu các màng hai chiều như MoS2 và NbSe2 vào những thập niên 60 của thế kỷ trước. Tuy nhiên cho đến nay nó vẫn là một phương pháp rất mạnh để nghiên cứu các đặc tính cũng như chế tạo các màng vật liệu hai chiều có kích thước lớn (~10μm). (ii) Vật liệu ionic (ionic solids) là vật liệu hai chiều mà các lớp của chúng liên kết với nhau bằng lực tĩnh điện thay vì bằng lực van der Waals như trên.
Để tách các màng hai chiều hay các phân tử từ vật liệu thì cần các chất cation hay anion hữu cơ như tetrabutylammonium/dodecyl sulfate. Các ion hữu cơ này trao đổi với các phân tử ion của vật liệu để tách chúng ra và tạo nên màng hai chiều trên bề mặt dung môi. Bề dày của các màng này thường nằm trong khoảng 0. (iii) Loại thứ ba bản chất ban đầu không phải là vật liệu cấu tạo từ nhiều lớp hai chiều, tức chúng không phải là các khối vật liệu gồm các lớp hai chiều xếp chồng lên nhau như loại (i) và (ii), mà chúng được hình thành bằng cách lắng đọng (chuyển pha) các phân tử hoặc nguyên tử từ trạng thái lỏng hoặc khí thành các màng trên chất nền.
Một ví dụ điển hình của loại vật liệu này là màng silicon được 7 lắng đọng trên bề mặt tinh thể bạc Ag(111) (Hình 1.1) hoặc trên ZrB2 (Hình 1. Hình STM của màng silicon trên nền tinh thể ZrB 2: (a) và (b) là hai hình ảnh ở độ phân giải khác nhau. Đường màu xanh dương và xanh lá cho thầy cấu trúc honeycomb của màng silicon [24]. Tổng quan về các mạng tinh thể dạng lưới ô vuông hai chiều: màng sắt hai chiều, màng băng đá hai chiều 1.
Màng sắt hai chiều Vật liệu có cấu trúc mạng lưới ô vuông hai chiều được khảo sát: mạng tinh thể ion đồng hai chiều [3] (Hình 1.3), tính chất từ, spin của màng sắt trên tinh thể đồng Cu (100) [4] hay tính chất cơ học của màng sắt trên tinh thể MgO (001) [5]. Tuy nhiên, các nghiên cứu đó chỉ thu được các tính chất của màng sắt đa lớp (multi- layer) gồm nhiều đơn lớp (mono-layer) sắt. Do đó, thí nghiệm của J. Zhao là thí nghiệm đầu tiên cho màng sắt đơn lớp và đồng thời gần như mở ra một phương pháp mới để tạo màng đơn nguyên tử đơn lớp hai chiều.Và với cách phân loại vật liệu hai chiều trên thì phương pháp tạo ra màng sắt có dạng lưới ô vuông hai chiều của J.
Zhao [2] có thể xếp vào loại thứ ba. Tuy nhiên, có hai điểm đặc biệt của thí nghiệm này là: (i) màng sắt hai chiều này được tạo nên dựa trên một vật liệu (màng) hai chiều khác đã có sẵn là graphene; (ii) do đặc tính của kim loại ngăn cản chúng tồn tại ở dạng hai chiều nên đây là một trong những trường hợp đầu tiên về màng hai chiều đơn nguyên tử kim loại. Mạng tinh thể đồng hai chiều dạng lưới ô vuông. Trong thí nghiệm của J.
Zhao, màng sắt được tạo ra như sau: Trước tiên, màng graphene được tạo trước bằng phương pháp CVD (Chemical Vapor Deposition) trên nền Ni/Mo. Sau đó, màng graphene đơn lớp được chuyển lên lưới 9 carbon (standard lacey carbon) TEM (Transmission Electron Microscopy) để tiến hành quan sát bằng kính hiển vi điện tử LVACTEM (Low-Voltage Spherical Aberration-Corrected Transmission Electron Microscopy). Sau quá trình chuyển thì các nguyên tử sắt Fe, sản phẩm từ dung môi FeCl 3 được sử dụng để tách màng graphene ra khỏi nền Ni/Mo, còn sót lại trên màng graphene và tạo thành một số tinh thể sắt có kích thước nanometer như BCC (Body Center Cubic), HCP (Hexagonal Close-Packed), và màng nguyên tử sắt đơn lớp (Hình 1.4) dưới các bức xạ electron của kính hiển vi chụp ảnh. Thí nghiệm cũng đã đo kích thước của màng sắt, cách thức liên kết gữa màng với graphene.
Sau đó, kết quả được kiểm chứng một lần nữa với mô phỏng từ nguyên lý ban đầu DFT. Cụ thể, mạng tinh thể ô vuông có kích thước 2.05 Å theo thực nghiệm và ~2.35 Å theo DFT (Hình 1.5); và moment từ tính bằng DFT cho mạng tinh thể thực nghiệm là 3.08 μB cao hơn nhiều so với 2.1 μB của tinh thể sắt thông thường. Bên cạnh đó, giữa màng sắt và graphene có hai cách thức liên kết là Zigzag và Amchair (Hình 1.6) là hai dạng biên của màng graphene. Trong đó, 10 màng sắt liên kết với biên Amchair của graphene cho cấu trúc bền vững hơn (Hình 1.
Hình ảnh chụp bằng kính hiển vi điện tử LVACTEM cho thấy các đặc trưng của màng sắt đơn lớp (A) và hình mô phỏng của nó (F). (B-E) Cho thấy kích thước của màng sắt giữa màng graphene thực nghiệm và mô phỏng. Bằng cách quan sát quá trình hình thành và suy sụp của màng sắt khi chiếu tia điện tử, thí nghiệm của J. Zhao cho thấy các màng sắt liên kết với biên dạng Amchair của graphene sẽ bền vững và tồn tại lâu hơn các liên kết với biên dạng Zigzag.
Mặt khác, tại các biên này, khuynh hướng liên kết thường là các nguyên tử sắt sẽ thay thế môt nguyên tử trong vòng benzen của graphene. Tuy nhiên, sau một khoảng thời gian nhất định thì các màng này cũng chuyển về trạng thái vô định hình hay các cấu trúc tinh thể 3D bình thường (Hình 1. Màng băng đá hai chiều Ngoài màng sắt đơn lớp hai chiều của J. Zhao, thì nước trong môi trường 11 Hình 1.
Các dạng liên kết giữa màng sắt và biên graphene (A,D), (B,E), (C,F), (J,K) thu được bằng mô phỏng và thực nghiệm. Sự hình thành và suy sụp của màng sắt trong quá trình chiếu tia electron. 12 chật hẹp (confined water) cũng cho nhiều cấu trúc đặc biệt. Và gần đây G.
Siller và các cộng sự đã tiến hành thí nghiệm tương tác giữa giọt nước với bề mặt graphene và nước bị nén gữa hai lớp graphene [6]. Trong đó, nước bị nén giữa hai lớp graphene cho cấu trúc tinh thể hai chiều dạng lưới ô vuông (Hình 1. Thí nghiệm này, trước tiên thả các hạt nước kích thước rất nhỏ (1L) đã được khử ion lên các màng graphene. Sau đó, một lớp graphene khác được phủ lên trên và được để bay hơi tự nhiên cho đến khi hai lớp graphene đó khép lại và giữ một lượng rất ít các phân tử nước giữa chúng.
Cấu trúc tinh thể nước mạng ô vuông giữa hai lớp graphene. Siller cũng sử dụng thực nghiệm và mô phỏng đông lực học phân tử để khảo sát quá trình hình thành tinh thể băng đá hai chiều (Hình 1.10a- 13 f) cũng như để kiểm tra các khuyết tật mạng tinh thể (Hình 1. Mô phỏng động lực học phân tử quá trình hình thành tinh thể băng đá dạng lưới ô vuông giữa hai đơn lớp graphene. Khảo sát bằng thực nghiệm và mô phỏng quá trình hình thành tinh thể băng đá giữa hai lớp graphene cũng như các khuyết tật mạng tinh thể khi hình thành.
Hai trường hợp trên đây là tiêu biểu cho quá trình hình thành cấu trúc mạng ô vuông từ trạng thái lỏng. Như vậy, số lượng các vật liệu có cấu trúc hai chiều dạng lưới ô vuông đang bắt đầu tăng và phương thức mà chúng được khám phá ra cũng rất đa dạng. Do đó, câu hỏi đặt ra là quá trình tinh thể hóa từ trạng thái lỏng của chúng diễn ra như thế nào và các đặc tính nhiệt động lực học của chúng thay đổi ra sao trong suốt quá trình đó. Cũng không kém phần quan trọng đó là có bao nhiêu khuyết tật mạng tinh thể đối với loại cấu trúc này và ảnh hưởng của chúng lên toàn hệ ra sao.
Trong thí nghiệm của J. Zhao thì do kích thước hệ quá nhỏ nên không thể giải quyết các vấn đề trên. Còn trong thí nghiệm cũng như mô phỏng của G. Siller thì rõ ràng về bản chất không trả lời được tốc độ hình hành mạng tinh thể phụ thuộc như thế nào vào nhiệt độ.
Vì vậy để thu được bức tranh hoàn chỉnh về quá trình đông đặc của chất lỏng hai chiều dẫn đến hình thành mạng tinh thể dạng lưới ô vuông, ta cần thông tin ở cấp độ nguyên tử mà số lượng nguyên tử phải đủ lớn và 15 không phân biệt loại nguyên tử hay phân tử. Do đó, mô phỏng động lực học phân tử quá trình kết tinh tinh thể hai chiều đơn nguyên tử (chỉ phụ thuộc tương tác giữa chúng) từ trạng thái lỏng là mô hình phù hợp. Vấn đề còn lại là lựa chọn tương tác cho các đơn nguyên tử như thế nào. Trước đây đã có một số nhóm thiết kế sẵn các thế tương tác cặp nhằm hình thành nên các cấu trúc tinh tinh thể 2D, 3D ổn định.
Đối với cấu trúc lưới ô vuông thì có hai lựa chọn là thế tương tác của A. Jain [7] hay của M. Trong đó thế của A. Jain được xây dựng dựa trên cơ sở của một thế nhân tạo hoàn toàn thể hiện các tương tác hút và đẩy; sau đó, các tham số của thế này được tối ưu bằng phương pháp gieo ngẫu nhiên các giá trị này để dò ra thế thỏa các yêu cầu của cơ học thống kê cho hệ có cấu trúc tinh thể xác định.
Tuy nhiên, thế này chỉ phù hợp với phương pháp mô phỏng Monte Carlo hay mô phỏng động lực học cho các đĩa cứng. Trong khi đó, Rechtsman dựa trên thế Lennard-Jones có sẵn, là thế tương tác thực giữa các hạt trong trạng thái lỏng hoặc khí, với sự hiệu chỉnh hợp lý để thu được cấu trúc tinh thể mạng ô vuông khi hệ ở trạng thái cơ bản. Vì lý do đó, thế của Rechtsman được chọn là thế tương tác cho các hạt trong mô hình. 16 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH 2.