CHƯƠNG I: TÔNG QUAN CÁC CĂN HỘ NHÀ Ở XÃ HỘI 1.1 Nhà ở xã hội: Khái niệm “Nhà ở xã hội” đã có từ trong luật nhà ở 2006, là nhà ở do Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng cho các đối tượng quy định tại Điều 53, Điều 54 của Luật Nhà ở và quy định tại Nghị định này mua, thuê hoặc thuê mua theo cơ chế do Nhà nước quy định; Đối tượng được thuê hoặc mua như công chức của nhà nước chưa có nhà ở én định, người có thu nhập thấp. và được cho thuê hoặc cho ở với giá rẻ so với giá thị trường. Chính vì vậy đây là loại hình nhà ở có ý nghĩa xã hội lớn Quy mô, số lượng nhà ở xã hội tùy thuộc nhu cầu thuê và thuê mua của các đối tượng sinh sống trên địa bàn, phù hợp điều kiện kinh tế-xã hội của từng địa phương. Nguồn vónphát triển nhà ở xã hội được hình thành từ tiền bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước trên địa bàn, trích từ 30% đến 50% tiền sử dụng đất của các dự án phát triển nhà ở thương mại và các dự án khu đô thị mới trên địa bản.
'Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhà ở xã hội tại đô thị phải là nhà chung cưđược thiết kế bảo đảm những tiêu chuẩn chung của pháp luậtvŠ xây dựngvà có số tầng theo quy định sau đây: « Tại đô thị loại đặc biệt phải là nhà năm hoặc sáu ting «Tại các đô thị loại 1, loại 2, loại 3, loại 4 và loại 5 phải là nhà không quá sáu tầng, «Diện tích mỗi căn hộ không quá 60mÊ sản và được hoàn thiện theo cấp, hang nhà ở nhưng không thấp hon 30m? san. ®_ Nhà ở xã hội phải bảo đảm các tiêu chuẩn hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo quy định của từng loại đô thị Đối với nhà ở được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn không phải từ ngân sách nhà nước để phục vụ cho các đối tượng là công nhân, người lao động trong khu công nghiệp, người thu nhập thấp tại các khu vực đô thị thì tiêu chuẩn thiết kế chung cư không quá 70m”, không khống chế số tầng, chủ đầu tư được điều chỉnh tăng mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất lên 1,5 lần so với quy chuẩn xây dựng hiện hành, phù hợp với quy hoạch được cơ quan có thẩm quyển phê duyệt.2 Ánh sáng Ánh sáng là sự pha trộn của tất cả các bước sóng điện từ có bước sóng. trong phạm vi 780 ~ 380 nm và sự phân tích ánh sáng ra thành các màu đơn sắc (mỗi một màu có một bước sóng tương ứng) gọi là phổ của ánh sáng. Ánh sáng trắng là sự pha trộn của tất cả các màu sắc tự nhiên.
Ánh sáng được sinh ra từ các ngồn khác nhau thì có các phổ ánh sáng khác nhau. Ánh sáng tự nhiên. Nguồn sáng tự nhiên duy nhất đó là Mặt Trời. Nguồn sáng này có ưu điểm là sẵn có và con người có thể tự do sử dụng mà không phải trả bắt cứ một chỉ phí nào.Ánh sáng tự nhiên là ánh sáng trắng hoàn toàn, nên nó phản ánh chính sác màu sắc của các đổi tượng kiến trúc tới mắt người quan sát.
Tuy nhiên, nguồn sáng tự nhiên cũng có nhược điểm đó là số giờ có nắng. tại các vùng khác nhau trên bề mặt trái đất khác nhau và có hạn. Ngoài ra, độ rọi ánh sáng tự nhiên không Ổn định vì phụ thuộc vào độ trong quang của bầu trời hay do hiện tượng tự quay xung quanh mình và tự quay xung quanh Mặt Trời theo một chu kỳ đều đặn của Trái Đắt, nên bề mặt Trái Đất có vùng sáng, tối biến hóa đều đặn theo chu kỳ ngày và đêm. Ánh sáng tự nhiên còn có nhược điểm là khó có thể chiếu sáng cho những, góc sâu của nội thất.
Ánh sáng mặt trời có hai thành phần chính mà các nhà thiết kế ánh sáng quan tâm đó là ánh sáng trực xạ của bầu trời. Nói tới nguồn sáng tự nhiên không thể không đề cập đến ánh trăng — nguồn sáng phản quan về đêm của. Mặt Trời, và ánh sáng ngọn lửa cháy mà con người đã biết lợi dụng, khai thác từ thiên nhiên. Ánh sáng trực xạ của Mặt Trời là ánh sáng nhận được từ những tỉa nắng của Mặt Trời.
Đặc điểm của loại ánh sáng này là có cường độ cao nên khi nó chiếu vào các vật thể có hình khối nổi thì tạo ra bóng đổ đạm và sắc nét. Tia nắng mặt trời sinh ra nhiệt lượng rất cao ngoài ra trong đó có tỉa tử ngoại diệt vỉ trùng nên tạo ra môi trường có lợi cho sức khỏe của con người. Tuy nhiên cường độ sáng cao và sinh nhiệt lượng lớn lại tạo nên những cảm giác tiêu cực cho con người. Ở những vùng nhiệt đới nóng ẩm như Việt Nam thì điều tiết ánh sáng trực xạ lại là một bài toán khó thực hiện bởi có sự mâu thuẫn giữa việc ngăn bớt ánh sáng với sự thông thoáng để lấy gió mát.
Nếu dùng mành, rèm để ngăn cản ánh sáng trực xạ mặt trời thì cũng có nghĩa là ta ngăn cản luồn gió mát vào trong phòng và che chắn tầm nhìn. Anh sang tan xạ của bầu trời là những tia nắng mặt trời bị các đám mây khuếch tán. Ánh sáng tán xạ của bầu trời có cường. độ ánh sáng yếu hơn ánh sáng trực xạ của mặt trời nhưng trải đều và bao trùm lên mọi vật thể.
Khi nó chiếu vào các vật thể thì bóng đồ sinh ra thường mờ nhạt, không rõ nét thậm chí còn không có. Ánh sáng tán xạ của bầu trời không gây ảnh hưởng tiêu cực tới mắt người, rất thích hợp cho việc chiếu sáng ở nội thất các phòng học, thư viện cũng như nhà ở, Sự nhìn không những phụ thuộc vào độ rọi tỏa sáng (độ sáng) trên bÈ mặt của vật quan sát mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: phương của. trên bề mặt vật quan sát, sáng của vật cần nhìn so với bối cảnh xung quanh trong tầm nhìn. Trong môi trường tự nhiên thì tỉ lệ sáng - tối sẽ là tỉ lệ tương ứng độ sáng giữa bầu trời.
cảnh quan trong tầm nhìn (cây cối, mặt nước.) và mặt đất. Ở những nước có số giờ nắng nhiều (thường là những vùng nhiệt đới), ở đó lại thường có mưa nhiều hơn nên cấy cỏ tốt tươi, có nhiều diện tích mặt nước, tỉ lệ trên tắt sẽ không giống. ở các nước xứ lạnh, ít nắng. Kết hợp các điều kiện khí hậu đặc thù trên, kỹ sư Nguyễn Sanh Dạn có đề xuất tỉ lệ độ sáng giữa thiên nhiên tiện nghỉ ở các nước nhiệt đới tương ứng giữa bầu trời, cảnh vật trong tầm nhìn và mặt đất lần lượt sẽ là 10:7:3.
Ở các xứ nước lạnh có số giờ nắng ít thì tỉ lệ này là 5:3:1 và ở những, nước có khí âu nóng khô là 10:3:1. Trong kí trúc that, ti k áng sẽ được tính bằng tương quan giữa các thành tố kiến trúc chính là trần:tường:sàn (trần đóng vai trò như bầu trời trong tỉ lệ độ sáng - tối tự nhiên, tường đóng vai trò của cảnh quan, và sàn đóng vai trò của đất). Do vậy, ở các nước xứ nhiệt đới tỉ lệ độ sáng trong nội thất giữa trần:sàn:tường cũng nên lấy là 10:7:3, còn ở các nước xứ lạnh nên lấy là 5:3:1 và người dân ở các nước xứ lạnh (phương Bắc) thường quen với độ tương phản sáng tối thấp, trong đó người dân các xứ nhiệt đới mưa nhiều ( phương Nam) quen với độ tương phản sáng tối cao. Nhìn chung, mối quan hệ giữa màu sắc và môi trường ánh sáng tự nhiên ngoại thất thì người dân phương Bắc thích dùng các màu sơn sặc sỡ tươi vui hay sẫm màu (độ sáng thấp) cho mặt ngoài công trình kiến trúc để mùa đông tương phản rõ với màu trắng cảnh quan cho cảnh sắc đỡ buồn tẻ và tạo cảm giác ấm cúng hơn; còn người dân phương Nam lại thích dùng các màu sơn có sắc nhạt và độ phản quang cao (như trắng, kem vàng) để giảm hấp thụ nhiệt vào nhà, phản xạ bớt nhiệt lượng mặt trời.
Như vậy, chế độ ánh sáng tự nhiên gồm những yếu tố cơ bản như độ rọi bầu trời, số giờ nắng trong ngày theo từng mùa ở từng vị trí là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới kiến trúc, bởi vì một công trình kiến trúc trong giai đoạn thiết kế đã phải được kiến trúc sư nghiên cứu sao cho công trình khi xây xong sẽ phù hợp với khí hậu ở vùng đặt công trình [8] b. Ánh sáng nhân tạo Ngày nay, lĩnh vực khoa học kỹ thuật áp dụng trong xây dựng có nhiều tiến bộ, đổi mới nên việc đơn thuần sử dụng ánh sáng tự nhiên không bao giờ thỏa mãn yêu cầu của các kiến trúc sư, do đó các nguồn sáng nhân tạo được kết hợp sử dụng. Những nguồn sáng nhân tạo có ưu điểm mà các nguồn sáng tự nhiên không có, đó là dễ dàng điều khiển theo ý muốn, cho phép ta chiếu sáng hiệu quả các không gian bên trong một cách tối đa. Ngồn sáng nhân tạo có thể sinh ra ánh sáng có màu sắc đa dạng và cường độ sáng ổn định.
Chúng có thể đáp ứng được yêu cầu về chiếu sáng công năng và chiếu sáng thâm mỹ bên trong. hay bên ngoài công trình. Nhưng nguồn sáng nhân tạo có những nhược điểm như đòi hỏi chỉ phí sinh ra được ánh sáng hoàn toàn trắng như ánh sáng ban ngày nên sự phản ánh màu sắc của các đổi tượng kiến trúc tới mắt người quan sát không. chính xác tuyệt đối.
Ngày nay, mọi người đều công nhận khả năng sáng tạo ra những công trình kiến trúc có chất lượng thấm mỹ cao của các kiến trúc sư là không có giới hạn, nhưng cần đi kèm với sự phát triển không ngừng trong lĩnh vực sáng tạo ra các nguồn sáng nhân tạo linh hoạt. Tên phương diện hiệu quả nghệ thuật, chuên gia ánh sáng đã phân biệt năm dạng, kiểu chiếu sáng nhân tạo: - Chiếu sáng đa hướng khuếch tán (chiếu sáng gián tiếp) - Chiếu sáng tập trung theo một hướng (chiếu sáng trực tiếp) ~ Chiếu sáng trang trí. - Chiếu sáng động - Chùm sáng laZer. Như vậy, việc lựa chọn các kiểu chiếu sáng, bố trí chiếu sáng trong không, gian kiến trúc, xác định hướng chiếu của nguồn sáng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật sử dụng hiệu quả ánh sáng vào nâng cao thâm mỹ, nghệ thuật kiến trúc nói riêng và tạo ra đồng thời sức biểu cảm thâm mỹ kết hợp.