chương 1, 2, 3 giới thiệu các vấn dề chung về vật liệu, tính năng cơ lý và nguyên lý tính toán kết cấu bê tông cốt thép. Các chương 4, `5,6,7, 8, 9, 10 và 13 giới thiệu cách tính toán theo trạng thái giới hạn về cường độ các loại cấu kiện chựu lực cơ bản thường gặp trong ngành công trình. Chương 11và 12 giới thiệu cách tính toán theo trạng thái giới hạn về biến dạng và về nứt của cấu kiện. Nội dung của tài liệu này được trình bày theo phương pháp tính toán trạng thái giới han là phương pháp tính toán tiên tiến hiện nạy.
trong từng chương mục của tài liệu, chúng tôi trình bày các vấn đề đồng thời cho caả cấu kiện bê tông cốt thép và bê tông cốt thép dự ứng lực, chứ không tách ra hai phần riêng biệt như các tài liệu trước dây thường vẫn trình bày. Tài liệu này được soạn thảo theo chương trình môn học kết cấu bê tông cốt thép dùng cho học sinh các ngành cầu dường. Nó là cơ sở cho môn học cầu bê tông cốt thép. Vì vậy các quy dịnh về thiết kế và cấu tạo chủ yếu dược lấy theo quy trình CH-365-67 là quy trình riêng cho kết cấu bê tông cốt thép dùng trong ngành cầu dường.
Vì trình dộ người viết có hạn, và là lần dầu tiên biên soạn tài liệu này, nên chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Mong bạn dọc cho những nhận xét góp ý cho nội dung tài liệu ngày càng dược sửa chữa và bồ sung tốt hơn. Hà nội, ngày 6 tháng 11 năm 1977 ĐÀO BÁ THỰC l KCBT -3 Chuong 1: KHAI NIEM CHUNG VE KET CAU BE TONG COT THEP § - DAC DIEM CUA CAU KIEN BE TONG COT THEP. Thực chất của bê tông cốt thép.: Bê tông cốt thép là một loại vật liệu xây dựng hỗn hợp đo hai loại vật liệu có đặc trưng cơ học khác nhau (bê tông và thép) cùng phối hợp chịu lực với nhau một cách hợp lý và kinh tế.
Riéng bé tong là một loại vật liệu đá nhân tạo. Các thành phần cơ bản như cốt liệu, chất dính kết cũng như phương pháp chế tạo và một số tính chất cơ lý của nó đã được đề cập đến trong giáo trình vật liệu xây dựng. Giống như vật liệu đá thiên nhiên, bê tông chịu nén tốt hơn bê tông chịu kéo rất nhiều (15-20 lần). Như vậy việc sử dụng riẽếng bê tông để làm các cấu kiện chịu lực có phát sinh ứng suất kéo là không hợp lý.
Ta hãy xét một dầm có mômen uốn tác dụng. Mômen này sẽ tạo ra các vùng cố ứng suất kéo nén khác nhau trên tiết diện của cấu kiện. Tại vùng có ứng suất kéo, bê tông sẽ bị nứt khi đạt đến cường độ giới hạn về chịu kéo, trong khi ở vùng có ứng suất nén, trị số ứng suất này còn xa mới đạt tới giới hạn. Do đó khả năng chịu lực của cấu kiện rất thấp mà cường độ của bê tông (vùng chịu nén) chưa được khai thác hết.
Để tận dụng được khả năng này, người ta đặt thêm các cốt thép chịu lực vào vùng cớ ứng suất kéo để cùng phối hợp làm việc với bê tông. Cũng có thể sử dụng một số loại cốt bằng vật liệu khác như tre, chất dẻo, thủy tỉnh. Như vậy ta có được một loại vật liệu mới: bê tông cốt thép hoặc nơi tổng quát hơn là bê tông có cốt. Để thấy rö vấn đề này, ta lấy một đầm đơn giản làm thí dụ.
Nếu đầm chỉÌ bằng bê tông (H 1-10a) thì dưới tác dụng của tải trọngư vết nứt đầu tiên sẽ xuất hiên ở vùng chịu kéo tại tiết diện có mômen uốn lớn nhất (giữa dầm). Khi tải trọng tiếp tục tăng, vết nứt càng mở rộng và nâng cao, phần bị nén thu hẹp lại và sự phá hoại xẩy ra đột ngột mang tính chất phá hoại dòn, trong khi các tiết diện khác vẫn chưa bị nứt. Khả năng chịu lực của vật liệu nhất là ở vùng chịu nén vẫn chưa được khai thaác hết mặt dù cấu kiện đã bị phá hoại. Nếu ta đặt thêm một lượng cốt thép thích hợp vào vùng chịu kéo của dầm (H 1-1b) thì giới hạn chịu lực của dầm tăng lên rất nhiều (có thể đến 20) và tình hình phá hoại xẩy ra cũng khác.
Tại tiết diện chịu mômen lớn nhất (giữa dầm), khi ứng suất thớ bê tông ở vùng chịu kéo đạt đến cường độ giới hạn chịu kéo, vết nứt đầu tiên sẽ xuất hiện và mở rộng. Tại đó toàn bộ nội lực kéo sẽ do cốt thép chịu. Nếu tiếp tục tăng tải trọng mới ở các tiết diện gần đơ sẽ hình thành. Sự phá hoại của cấu kiện sẽ xẩy ra khi cốt thép đạt tới KCBT - 5 giới hạn chảy và bê tông vùng chịu nén bị ép vỡ.
Khi đớ cường độ của cả ˆ miổn chịu nếm, tyue trang hea hai thứ vật liệu đều được khai thác ays ‘ 2 z : hết. m¡£n chì kéo mich chin hen Ta thay thép chẳng những chịu -tlAE ` ` bw trina Zi _—— R kéo tốt mà chịu nén cũng tốt, nên còn được đặt vào các cấu kiện chịu kéo, có. awe ⁄ nén siđúng tâm, nén lệch tâm, uốn mién chin kes ¡ côtthéP xoắn v. để giảm nhẹ trọng lượng Hinh 1-1, Dam giản đón bằng bê và kích thước cấu kiện, và để chịu lực khi chế tạo, vận chuyển, lắp ráp được tông (a) và bê tông cốt thép (b) tốt hơn.
L Sở dĩ bê tông và cốt thép cơ thể kết hợp cũng chịu lực với nhau một cách hợp lý như vậy là nhờ những yếu tố sau: % - Trên bề mật tiếp xúc giữa bê tông và cốt thép có một lực dính bám khá lớn Lực dính bám này giữa cho cốt thép không bị tuột trong bê tông, do đố lực có thể chuyển từ vật liệu này sang vật liệu kia, hay nơi cách khác là biến dạng của bê tông và cốt thép trên cùng một thớ sẽ giống nhau. Có như vậy bê tông và cốt thép mới kết, hợp chịu lực một cách hợp lý được. - Giữa bê tông và cốt thép không xẩy ra phản ứng hoá học nào mà bê tông còn có tác dụng bao bọc cốt thép giữ cho cốt thép khỏi bị han ri và chống được ảnh hưởng trực tiếp của các đám cháy tới cốt thép. - Hệ số nở dài vì nhiệt của bê tông và cốt thép xấp xỉ bằng nhau: Với bê tông œ = 0,00001 0,000015, với thép « = 0,000012, do đó khi nhiệt độ biến thiên trong giới hạn thông thường (khoảng 100°C) sự dãn dài vì nhiệt của hai vật liệu này không chênh nhau mấy nên nội ứng suất sinh ra ảnh hưởng không đáng kể đến sự dính bám giữa bê tông và cốt thép.
Thực chất của bê tông cốt thép dự úng lực. Loại bê tông cốt thép giới thiệu ở trên được gọi là bê tông cốt thép thường hay bê tông cốt thép không dự ứng lực. Loại này có nhược điểm lớn là vết nứt xuất. hiện sớm, giới hạn chống nứt thấp, thí nghiệm đã chứng tỏ rằng khi ứng suất trong cốt thép chỉ mới tới 200 - 300kg/cmˆ thì lớp bê tông bao bọc xung quanh cốt thép đã bị rạn nút.
Khi ứng suất cốt thép đạt đến 1800 - 2500kg/cm” thì vết nứt ở vùng bê tông chịu kéo đã có thể rộng tới 0,2 - 0,3mm. Dây cũng là bề rộng vết nứt giới hạn mà các quy trình thiết kế quy định nó xuất phát từ các yêu câu như bảo vệ cho cốt thép khỏi bị ăn mòn do nước mưa hoặc hơi nước và xét đến điều kiện tâm lý của người sử dụng. Như vậy nếu dùng thép có cường độ cao để chế tạo bê tông cốt thép thường thì sẽ không khai thác hết khả năng chịu lực của thép được, vì hạn chế bề rộng vết nức tức là cũng hạn chế trị số ứng suất. kéo trong - ar see ied, a ane ae dién địch cốt thép ‘Bing phan nào giảm được mngưàgi4 SỤP Hi Xã tông sử skin p.
Hơn nữa với những cấu kiện yêu cầu có khả Ð thường tỏ ra bất lực. Thực tế đã chứng minh rằng vie việc teh tính toán chống nứt cho cấu lu ki kiện bê tông cốt thép thường chỉ i có tính chất lý thuyết 6- KCBT Để tăng giới hạn chống nứt cho cấu kiện và sử dụng được hợp lý thép cường độ cao và bê tông số hiệu cao thí cách tốt nhất là sử dụng bê tông cốt thép dự ứng lực Kết cấu dự ửng lực nói chung là loại kết cấu mà khi chế tạo chúng. người ta tạo ra 1nột trạng thái chịu lực nội tại ban đầu ngược với trạng thái chịu lực dưới tác dụng của tải trọng ngoài khi sử dụng nhằm hạn chế những yếu tố có hại đến tỉnh hình và khả năng chịu lực của kết cấu do tính chất chịu lực kém của vật liệu sinh ra. Với bê tông cốt thép thì chủ yếu laà người tạo ra lực nén trước cho những vùng của tiết diện mà sau này dưới tác dụng của tải trọng ở giai đoạn sử dụng bê tông tại đó chịu ứng suất kéo.
Như vậy ứng suất nén trước này sẽ triệt tiêu hoặc làm giảm ứng suất kéo do tải trọng gây ra trong bê tông. Như vậy cấu kiện không bị nứt hoặc nứt rất nhỏ. Rõ ràng là cấu kiện dự ứng lực sẽ cho giới hạn chống nứt lớn hơn và có thể không cho xuất hiện ứng suất kéo trong bê tông, tức là không cho xuất hiện nut. Ta có thể tạo ra các trạng thái ứng suất ban đầu khác nhau bàng cách thay đổi tri số lực nén trước trong bê tông và thay đổi trị số của cốt thép ‘cang trước trên tiết diện.
Nhờ vậy, ta có thể thiết cấu kiện một cách hợp lý về mặt chịu lực và đưa đến khả năng tiết kiệm nhất về vật liệu. Tớm lại kết cấu bê tông cốt thép dự ứng lực so với kết cấu bê tông cốt thép thường, có những ưu điểm cơ bản sau: : - Nang cao được giới hạn chống nứt và do đó có tính chống thâm cao. - Cho kha nang sử dung được hợp lý bê tông số hiệu cao và cốt thép cường độ cao, đưa đến giảm giá thành vật liệu và trọng lượng bản thân cẩu kiện. Ngoài ra, như sau này ta sẽ thấy rõ hơn, nó còn có đô cứng tăng lên, độ võng giảm đi, chịu tải trọng đổi dấu tốt hơn.
Một số khái niệm về phân loại và quy trình. , Căn cứ vào phương pháp xây dựng các kết cấu và công trính bê tông cốt thép, người ta chia ra: - Loại kết cấu toàn khối là loại đươc chế tạo ngay ở dia điểm xây dung, còn gọi là kết cấu đổ tại chỗ.