Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận về huy động vốn của Ngân hàng thƣơng mại Chương 3: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên. Chương 4: Giải pháp nâng cao hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên. 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu Bất kỳ một tổ chức nào muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải có vốn.
Nhu cầu sử dụng vốn là rất lớn nên các tổ chức không thể chỉ dựa vào nguồn vốn tự có để trang trải mà phải huy động vốn từ bên ngoài. Huy động vốn càng đóng vai trò quan trọng và cấp thiết đối với hoạt động củaNH khi nó chủ yếu dựa trên nguồn vốn huy động (NVHĐ). Do vậy, làm thế nào để nâng cao hoạt động huy động vốn luôn là vấn đề trăn trở của các nhà quản lý NH.Nhận thấy tầm quan trọng của việc nâng cao hoạt động huy động vốn trong bối cảnh cạnh tranh giữa các NH diễn ra ngày càng gay gắt và mãnh liệt. Trong thời gian qua đã có nhiều tác giả lựa chọn đề tài: huy động vốn tại một số NH làm đề tài nghiên cứu của mình; nhiều tài liệu về NHTM và các hoạt động của NHTM trong đó có hoạt động huy động vốn.
Khi đƣa ra khái niệm về NHTM, luận văn các tác giả Vũ Thu Giang (2008), Ngô Xuân Hoàng (2013), Đỗ Minh Huệ (2011), Nguyễn Thị Hƣờng (2012), Nguyễn Thị Thuỷ (2012), Trần Nhã Trân (2012), Trƣơng Thị Hải Yến (2014), Vũ Thị Kim Oanh (2012) đều căn cứ theo Luật các TCTD nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010: “Ngân hàng thƣơng mạilà loại hình NH đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Nghiên cứu về các nguồn vốn huy động của NHTM, luận văn các tác giả có khá nhiều quan điểm khác nhau. Các tác giả Nguyễn Thị Hƣờng, Nguyễn Thị Thủy cho rằng, NHTM có thể huy động vốn dƣới các hình thức nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, đi vay và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc (NHNN). Tác giả Vũ Thị Kim Oanh cho 5 rằng: phát hành giấy tờ có giá về bản chất là đi vay nên NVHĐ đƣợc cấu thành từ tiền gửi và đi vay.
Tác giả Trần Nhã Trân, Đỗ Minh Huệ đƣa ra suy luận nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn NH huy động đƣợc nên NVHĐ gồm vốn chủ sở hữu và vốn nợ trong đó vốn nợ gồm tiền gửi, đi vay. Nghiên cứu về quan niệm hiệu quả hoạt động huy động vốn, các tác giả: Đỗ Minh Huệ, Nguyễn Thị Thủy, Trƣơng Thị Hải Yến có cùng cách hiểuvề hiệu quả huy động vốn của NHTM là kết quả huy động mà NH đạt đƣợc, phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn, đảm bảo đƣợc mục tiêu an toàn và sinh lợi cao trong từng thời kỳ.Tác giả Trần Nhã Trân còn cho rằng:hiệu quả hoạt động huy động vốn đƣợc thể hiện khả năng tích hợp với dịch vụ mà NH đƣa ra.Tác giả Vũ Thu Giang đƣa ra quan niệm về chất lƣợng huy động vốn dựa trên định nghĩa của tổ chức quốc tế về chất lƣợng trong tiêu chuẩn hoá ISO: “ Chất lƣợng là tổng thể các đặc điểm và đặc tính của một sản phẩm hoặc dịch vụ có khả năng thỏa mãn đƣợc nhu cầu đƣợc nêu ra”, hay, “ Chất lƣợng là phù hợp với mục đích và sự sử dụng”. Theo đó, tác giả cho rằng: “ Chất lƣợng huy động vốn là sự phù hợp giữa khả năng huy động vốn và nhu cầu sử dụng vốn”. Theo tác giả Nguyễn Thị Hƣờng, hoạt động huy động vốn có hiệu quả khi NVHĐ có tính ổn định.
Nghiên cứu về các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn, đa số các tác giả (Vũ Thu Giang, Vũ Thị Kim Oanh, Nguyễn Thị Thủy, Trƣơng Thị Hải Yến), đều sử dụng các tiêu chí: quy mô nguồn vốn tiền gửi đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn, tốc độ tăng trƣởng cao, ổn định, cơ cấu nguồn vốn phù hợp, chi phí huy động vốn hợp lý qua việc đánh giá các chỉ tiêu: tốc độ tăng trƣởng, tỷ trọng các loại vốn huy động, chi phí trả lãi và các chi phí khác. Tác giả Nguyễn Thị Thủy sử dụng chỉ tiêu chênh lệch lãi suất bình quân giữa huy động vốn và sử dụng vốn để đo lƣờng khả năng sinh lời của NH trong quá trình huy động vốn và cho vay, đầu tƣ. Tác giả Vũ Thu Giang cho 6 rằng hiệu quả hoạt động huy động vốn còn dựa trên một số tiêu chí nhƣ: sự đa dạng về hình thức, kỳ hạn, lãi suất, tiền tệ của các sản phẩm huy động vốn, NVHĐ có thể chuyển hóa thành tiền mặt một cách dễ dàng với chi phí thấp. Tác giả Trần Nhã Trân đƣa ra nhiều chỉ tiêu nhƣ chi phí huy động biên, xác định lãi suất huy động theo phƣơng pháp định giá cá biệt, xác định chi phí lãi suất dựa trên tỷ lệ lạm phát và thu nhập kỳ vọng của ngƣời gửi tiền.
Ngoài ra, tác giả còn cho rằng bên cạnh các tiêu chí định lƣợng thì các tiêu chí định tính cũng rất quan trọng, đó là độ hài lòng của khách hàng, đảm bảo an toàn vốn huy động, khả năng mở rộng và phát triển hoạt động, mức độ thuận tiện và lợi ích của khách hàng gửi tiền. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến hoạt động huy động vốn, tất cả các tác giả đều cho rằng hoạt động huy động vốn của NH chịu ảnh hƣởng bới các nhân tố chủ quan xuất phát từ nội tại NH và các nhân tố khách quan. Các tác giả đƣa ra các nhân tố chủ quan nhƣ chính sách lãi suất, cơ sở vật chất, trang thiết bị của NH, mạng lƣới hoạt động, uy tín, thƣơng hiệu, sự đa dạng các dịch vụ, sản phẩm huy động, chiến lƣợc kinh doanh, quy mô vốn chủ sở hữu, trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng và các nhân tố khách quan nhƣ pháp luật, chính sách Nhà nƣớc, tình trạng nền kinh tế, môi trƣờng cạnh tranh. Tác giả Đỗ Minh Huệ,Nguyễn Thị Thủy cho rằng các yếu tố: hiệu quả hoạt động cho vay, đầu tƣ, hoạt động Marketing cũng có ảnh hƣởng đến hoạt động huy động vốn của NH.
Các sách, luận văn trên đều chung nội dung là hoạt động huy động vốn tại một số ngân hàng. Tuy nhiên, chƣa có công trình nào nghiên cứu hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thái Nguyên. Vì vậy, tác giải lựa chọn khoảng trống nghiên cứu này. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài 1.
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Phép biện chứng duy vật là một học thuyết khoa học, có tính hệ thống chặt chẽ thể hiện ở nội dung rất phức tạp và đa dạng, có nhiều yếu tố, nhiều cấp độ, nhiều chức năng và phản ánh ngày càng sâu rộng thế giới hiện thực. Theo nghĩa ấy, Lê-nin viết: “Phép biện chứng với tính cách là nhận thức sinh động, nhiều mặt (số các mặt không ngừng tăng lên mãi mãi) bao hàm vô số khía cạnh trong cách tiếp cận, đi gần tới hiện thực (với một hệ thống triết học đi từ mỗi khía cạnh mà phát triển thành một toàn thể)”. Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phƣơng pháp. Hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng hoạt động của thế giới tự nhiên, xã hội, tƣ duy và là công cụ sắc bén nhận thức thế giới khách quan của con ngƣời, mà còn chỉ ra đƣợc những cách thức để định hƣớng đúng hoạt động cụ thể nhằm mang lại hiệu quả, năng suất cao trong thực tiễn.
Khi đánh giá các mối quan hệ, làm các công tác dự báo và kiểm tra các giả thiết từ học thuyết kinh tế, các nhà nghiên cứu thƣờng sử dụng số liệu theo dạng chuỗi thời gian, các sự kiện quan sát đƣợc sắp xếp theo trình tự thời gian, để nghiên cứu các biến số kinh tế. Áp dụng phƣơng pháp này trong nghiên cứu đề tài là phải có quan điểm khách quan, trung thực, xem xét sự vật một cách toàn diện, mang tính hệ thống, trong sự vận động và phát triển, có quan điểm lịch sử cụ thể. Xem xét các hiện tƣợng và quá trình kinh tế trong mối liên hệ chung và sự tác động lẫn nhau trong trạng thái phát triển không ngừng, trong tiến trình đó sự tích lũy những biến đổi về lƣợng sẽ dẫn đến những biến đổi về chất. Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng xuyên suốt trong quá trình viết luận văn.
Phương pháp thống kê và phân tích số liệu thống kê Phƣơng pháp thống kê và phân tích số liệu thống kê đƣợc sử dụng phổ biến trong hầu hết các sách, tạp chí, luận văn, công trình nghiên cứu khoa học. - Thống kê là một hệ thống các phƣơng pháp bao gồm thu thập,tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trƣng của đối tƣợng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định. Thống kê thƣờng nghiên cứu 2 lĩnh vực: thống kê mô tả (bao gồm các phƣơng pháp liên quan đến việc thu thập số liệu, tóm tắt, trình bày, tính toán các đặc trƣng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát đối tƣợng nghiên cứu) và thống kê suy diễn(bao gồm các phƣơng pháp ƣớc lƣợng các đặc trƣng của tổng thể nghiên cứu, phân tích mối liên hệ giữa các hiện tƣợng nghiên cứu, dự đoán hoặc đề ra các quyết định trên cơ sở các số liệu thu thập đƣợc. Đề tài nghiên cứu của tác giả chủ yếu sử dụng thống kê mô tả với các kỹ thuật thƣờng sử dụng nhƣ sau:biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu, so sánh dữ liệu; biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu; thống kê tóm tắt (dƣới dạng các giá trị thống kê đơn nhất) mô tả dữ liệu.
- Phân tích là phƣơng pháp dùng để chia cái toàn thể hay một vấn đề phức tạp ra thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố đơn giản hơn để nghiên cứu và làm sáng tỏ vấn đề.