CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TIẾT KIỆM TRONG DÂN CƯ 1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Do tập quán luật pháp của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ khác nhau đã dẫn đến những quan điểm về Ngân hàng thương mại không đồng nhất giữa các khu vực trên thế giới. Vì vậy trong quá trình hình thành và phát triển từ thế kỷ XV đến nay, đã có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại như sau: Theo luật Ngân hàng của Pháp năm 1941: “ Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính” Theo pháp lệnh Ngân hàng Việt Nam năm 1990: “ Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ chủ yếu là thường xuyên nhận tiền gửi của khách hàng (dân cư và các doanh nghiệp), có trách nhiệm hoàn trả và sử dụng để cho vay, thanh toán, chiết khấu .” Theo luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng năm 1997: “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã và các loại hình ngân hàng khác” Tóm lại, ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng vay tiền của người gửi và cho công ty và cá nhân vay lại và có cùng mục tiêu lợi nhuận như các doanh nghiệp Luận văn thạc sỹ - GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 7 khác trong nền kinh tế. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại gắn liền với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, các tổ chức và các chủ thể kinh tế.
Trong quá trình đó, ngân hàng thương mại thực hiện vai trò điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế thông qua chức năng của mình, biểu hiện các mối quan hệ giữa ngân hàng thương mại với các tổ chức kinh tế, cá nhân về mặt tín dụng, tiền mặt, các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt… đảm bảo hoạt động của ngân hàng và nền kinh tế được bình thường.2 Chức năng của ngân hàng thương mại: 1.1 Chức năng trung gian tín dụng: Trong nền kinh tế bao giờ tại một thời điểm luôn tồn tại tình trạng: có một số lượng vốn tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể chưa cần dùng đến, mặt khác lại có một số lượng chủ thể khác tạm thời thiếu vốn để hoạt động, kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng… Để giải quyết tình trạng này thì ngân hàng thương mại với vai trò trung gian, là nhịp cầu nối liền chủ thể thừa vốn và thiếu vốn trong nền kinh tế lại với nhau, là “người đi vay để cho vay”. Có thể nói ngân hàng là một xí nghiệp kinh doanh sản phẩm là đồng vốn. Ngân hàng vừa là người “cung cấp” đồng thời cũng là người “tiêu thụ” đồng vốn của khách hàng. Tất cả những hoạt động mua, bán này thường thông qua một số công cụ và nghiệp vụ ngân hàng từ truyền thống cho đến hiện đại.
Chính nhờ các nghiệp vụ đa dạng do ngân hàng cung cấp mà nhiều nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng hiện đại ra đời, phát triển và gắn với chức năng trung gian tín dụng. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại đã góp phần khắc phục các hạn chế trong quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có vốn chưa sử dụng và chủ thể có nhu cầu vốn bổ sung. Với chức năng này, ngân hàng thương mại làm trung gian chuyển vốn tiền tệ từ nơi thừa đến nơi thiếu cho các chủ thể tham gia không có mối liên hệ trực tiếp với nhau và điều này có vai trò to lớn đối với nền kinh tế vì: Ngân hàng tập trung Luận văn thạc sỹ - GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 8 hầu hết những nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và biến nó từ chỗ là phương tiện tích lũy thành nguồn vốn lớn cho nền kinh tế, ngoài ra việc sử dụng nguồn vốn này cung ứng cho nền kinh tế với tính luân chuyển của nó gấp nhiều lần. Như vậy, ngân hàng thương mại vừa là người đi vay vừa là người cho vay mà thông qua nghiệp vụ của mình ngân hàng tập hợp tài lực của khách hàng này đem đến cho khách hàng hàng khác vay lại.1: Chức năng trung gian tín dụng Cá nhân, Ngân Cá nhân, công ty, 1 hàng 2 công ty, tổ chức thương tổ chức Chú thích: (1) Hoạt động nhận tiền gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi (nghiệp vụ huy động vốn).
(2) Hoạt động cấp tín dụng. Chức năng trung gian tín dụng được hình thành ngay từ lúc các ngân hàng thương mại hình thành. Ngày nay, thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đã và đang thực hiện chức năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng và từ đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân.2 Chức năng trung gian thanh toán Xuất phát từ chức năng là người thủ quỹ của các doanh nghiệp, ngân hàng có đủ điều kiện để thực hiện các dịch vụ thanh toán theo sự ủy nhiệm của khách hàng. Kế thừa và phát triển chức năng “thủ quỹ của các doanh nghiệp” nên hầu hết ngân hàng thương mại thực hiện nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền hàng hóa và dịch vụ các Luận văn thạc sỹ - GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 9 cá nhân, doanh nghiệp… theo lệnh của chủ tài khoản.
Khách hàng sẽ mở tài khoản tại các ngân hàng thương mại và ra lệnh cho ngân hàng thực hiện các khoản chi trả hoặc ủy nhiệm cho ngân hàng thu các khoản từ người mua… Như vậy, các doanh nghiệp không phải thực hiện các công việc mất nhiều thời gian và công sức mà vẫn không đảm bảo an toàn như đếm tiền, nhận tiền… trong quá trình thanh toán với các đối tác trong nền kinh tế. Chức năng làm trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại ngày nay không chỉ đơn thuần và mang tính truyền thống như trước, mà cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại… đã tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại thanh toán bù trừ, thanh toán điện tử trực tuyến… với nhau nhanh chóng và chính xác hơn, tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội, thúc đẩy luân chuyển vốn và quá trình lưu thông hàng hóa ngày càng phát triển. Đối với khách hàng thuộc các tầng lớp dân cư, việc mở tài khoản và ký gửi tiền tại ngân hàng, ngoài việc được ngân hàng cung cấp một sổ kiểm tra để thuận tiện cho việc chi trả, còn được ngân hàng cung ứng một loạt dịch vụ đa dạng về tài chính có sinh lợi khác như các chương trình khuyến mại về phí dịch vụ, liên kết thanh toán… 1.3 Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính – ngân hàng Ngân hàng với những ưu thế của mình như hệ thống mạng lưới chi nhánh rộng khắp trong và ngoài nước, mối quan hệ với các khách hàng, hệ thống trang thiết bị thông tin hiện đại về kho quỹ… nên có thể cung cấp các dịch vụ ngày càng đa dạng cho khách hàng như: tư vấn tài chính và đầu tư cho doanh nghiệp, làm đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếu đảm bảo hiệu quả cao và tiết kiệm chi phí, dịch vụ cho thuê két sắt, bảo đảm an toàn vật có giá, lưu trữ và quản lý chứng khoán cho khách hàng, làm dịch vụ thu lãi chứng khoán, chuyển lãi đó vào tài khoản cho khách hàng… từ đó hỗ trợ cho ngân hàng thương mại thực hiện tốt hơn chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán. Luận văn thạc sỹ - GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Chức năng tạo tiền (bút tệ hay tiền ghi sổ): Quá trình tạo tiền của Ngân hàng thương mại được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán trong hệ thống ngân hàng và trong mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng Trung Ương của mỗi quốc gia.
Với một hệ thống ngân hàng hoàn chỉnh, với một số lượng tiền gửi ban đầu là A và cùng tỉ lệ dự trữ bắt buộc nhất định thì các ngân hàng thương mại có thể tạo một số lượng tiền ghi sổ lớn hơn lượng tiền ban đầu gấp nhiều lần thông qua hệ số tạo tiền được tính như sau: 1 Hệ số tạo tiền = (1.1) Tỉ lệ dự trữ bắt buộc Khối lượng tiền tạo ra = Khối lượng tiền gửi ban đầu * Hệ số tạo tiền (1.2) Đây là chức năng sáng tạo ra bút tệ, góp phần gia tăng khối lượng tiền tệ cho nền kinh tế. Với hàng loạt các nhân tố tác động ảnh hưởng đến quá trình tạo tiền của ngân hàng, các nhà kinh tế đương thời đã đưa ra nhiều công thức hoàn chỉnh hơn cho hệ số tạo tiền, theo công thức của Giáo sư người Pháp P.Lehaman: 1 Hệ số tạo tiền = (1.3) (a + b + r) Trong đó: a: Tỉ lệ dự trữ bắt buộc (dự trữ pháp định); Luận văn thạc sỹ - GVHD: PGS.TS Bùi Kim Yến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trang 11 b: Tỉ lệ tiền mặt trên tiền gửi thanh toán; r: Tỉ lệ dự trữ dư thừa trên tiền gửi thanh toán không vay hết. Như vậy, quá trình tạo tiền là hệ quả tổng hợp của hoạt động nhận tiền gửi, thanh toán hộ và cho vay của các ngân hàng thương mại luôn luôn có sự trợ giúp của Ngân hàng Trung Ương. Tuy nhiên, việc tạo tiền có khả năng làm cho các ngân hàng thương mại mất khả năng chi trả tiền mặt và lúc đó ngân hàng Trung Ương phải cho các ngân hàng thương mại vay để bù đắp thiếu hụt thanh khoản.
Bằng việc tạo tiền trong khi thực hiện hoạt động kinh doanh của mình, Ngân hàng thương mại đã thể hiện vai trò của mình trong việc góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô của Ngân hàng Trung Ương thông qua chính sách tiền tệ.