Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là ngân hàng kinh doanh tiền tệ vì mục đích lợi nhuận. Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Với tư cách là tổ chức kinh doanh, hoạt động của ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở chế độ hạch toán kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ngân hàng thương mại được pháp luật cho phép thực hiện rộng rãi các loại nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, như: nhận tiền gửi có kì hạn, không kì hạn; thực hiện nghiệp vụ chiết khấu; dịch vụ thanh toán; huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ nhận nợ. Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua tháng 20/11/2017 cũng xác định : “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”, trong đó “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Qua hai khái niệm trên có thể thấy NHTM được khẳng định là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, trong đó có hai nghiệp vụ cơ bản là: nhận gửi của các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức với nghĩa vụ hoàn trả, và sử dụng các khoản tiền gửi đó để cho vay hay chiết khấu và các nghiệp vụ khác. 6 Hoạt động kinh doanh của NHTM có quan hệ sâu rộng trong đời sống kinh tế và ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Lịch sử hình thành của ngành ngân hàng ghi nhận rằng sự ra đời, tồn tại và phát triển của ngành ngân hàng được quyết định bởi quá trình phát triển của các quan hệ hàng hóa- tiền tệ. Và khi nền kinh tế phát triển đó cũng là điều kiện đòi hỏi sự phát triển của NHTM để trở thành động lực, là nhân tố thúc đẩy nền kinh tế phát triển Như vậy, dựa trên những đặc trưng của hoạt động ngân hàng, dựa trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp, NHTM có thể được hiểu như sau:” NHTM là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” 1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại a. Trung gian tài chính “ NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiền tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn ; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền tiết kiệm. Sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng, điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm (2) sang nhóm (1) nếu cả hai cùng có lợi.
Như vậy trung gian tài chính đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, đồng thời làm giảm phí tổn tín dụng cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu tư) từ đó mà khuyến khích đầu tư. Trung gian tài chính đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giải quyết được mâu thuẫn của 7 tín dụng trực tiếp. Cơ chế hoạt động của trung gian sẽ có hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các kĩ thuật nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch. Tạo phương tiện thanh toán Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy nếu họ có số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu.
Mặt khác, khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán (tham gia tạo M1). Trung gian thanh toán Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và dịch vụ.
Để việc thanh toán nhanh chóng thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, các loại thẻ…Ngoài ra các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán.Các hoạt động chủ yếu của NHTM Với các chức năng chính của mình, NHTM thực hiện các hoạt động cơ bản sau: 1.1 Huy động vốn và cho vay Huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng hàng đầu của NHTM. Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh cho Ngân hàng, nó ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của Ngân hàng. NHTM huy động vốn thông qua tiền gửi và đi vay. Với tư cách là trung gian tài chính, ngân hàng thương mại huy động vốn thông qua nhiều nguồn và bằng nhiều biện pháp khác nhau như nhận gửi từ 8 khách hàng, vay ngân hàng khác, phát hành giấy tờ có giá.
Trên góc độ kinh doanh thì vốn huy động được càng nhiều thì khả năng cho vay càng lớn, tác dụng kích thích kinh tế và kiểm soát bằng đồng tiền càng được phát huy mạnh mẽ. Ở Việt nam trong vòng mười lăm năm trở lại đây, huy động vốn qua ngân hàng là một trong những hoạt động cơ bản, quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Đây cũng là một trọng trách của hệ thống ngân hàng thương mại nước ta trong giai đoạn hiện nay…(Phan Thị Thu Hà, 2013).2 Sử dụng vốn Sử dụng vốn bao gồm các hoạt động cho vay, đầu tư, dự trữ… nhằm mục đích sinh lời và đảm bảo khả năng thanh toán cho ngân hàng. Trong danh mục hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thì khoản mục cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất, thường vào khoảng 60% - 80% tổng tài sản.
Cho vay là việc ngân hàng cho người khác sử dụng một lượng tiền tệ trong một thời gian được xác định trước và sẽ được nhận lại kèm theo một mức lợi tức tương ứng với mức độ sinh lãi mong đợi và các rủi ro có thể phát sinh. Nguồn để cho vay là các khoản mà ngân hàng huy động được cùng với số vốn tự có của ngân hàng. Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của các ngân hàng. Thời gian qua, hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam được mở rộng tới tất cả các thành phần kinh tế, và dưới nhiều hình thức như: cho vay vốn lưu động, cho vay vốn cố định, cho vay đối với sinh viên, cho vay tiêu dùng, tín dụng thuê mua, tín dụng xoá đói giảm nghèo ở nông thôn…và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận như khuyến khích sản xuất, tăng sản lượng trong nền kinh tế, tạo thêm việc làm…(Phan Thị Thu Hà, 2013).3 Hoạt động thanh toán Ngân hàng thực hiện chức năng thanh toán của mình bằng các dịch vụ thông qua việc mở tài khoản cho khách hàng là các cá nhân và các tổ chức.
9 Ngân hàng cung cấp các dịch vụ thanh toán thông qua các hình thức như séc, thẻ, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng… Thông qua việc giải quyết các nhu cầu về thanh toán, chi trả mà các ngân hàng thương mại đã góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn, tiết kiệm chi phí lưu thông, do đó góp phần tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế thị trường càng phát triển, hoạt động thanh toán ngày càng hoàn thiện và phát huy hiệu quả thì vai trò của ngân hàng thương mại càng được nâng cao. Hoạt động thanh toán cũng là tiền đề để hỗ trợ các hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn cùng phát triển.4 Hoạt động khác Bên cạnh ba mảng nghiệp vụ truyền thống trên, ngân hàng thương mại còn thực hiện nhiều hoạt động khác như quản lý ngân quỹ, bảo lãnh, cho thuê tài chính, kinh doanh ngoại tệ, vàng, chứng khoán, bảo quản vật có giá, cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tư vấn, các dịch vụ bảo hiểm…(Phan Thị Thu Hà, 2013). Hiệu quả cho vay đối với DNNVV của NHTM 1.
Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Căn cứ theo điều 6, Nghị định 80/2021/NĐ-CP Ngày 26/8/2021 của Chính Phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. 10 Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.