CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm Mặc dù khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được biết đến trên thế giới từ những năm đầu của thế kỷ XX, và khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa được các nước quan tâm phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, ở Việt Nam khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa mới được biết đến từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới.
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, các doanh nghiệp nhà nước được chia thành doanh nghiệp loại 1, doanh nghiệp loại 2, doanh nghiệp loại 3 với tiêu chí phân loại chủ yếu là số lao động trong biên chế và theo phân cấp Trung ương - địa phương. Trong đó, DNNVV gần như tương ứng với doanh nghiệp loại 2 và loại 3. Theo Thông tư liên bộ số 21/LĐTT ngày 17/06/1993 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính, các doanh nghiệp ở Việt Nam được phân chia thành 5 hạng: hạng đặc biệt, hạng I, II, III, IV dựa trên độ phức tạp của quản lý và hiệu quả sản xuất, kinh doanh với 8 tiêu chí rất phức tạp như vốn, công nghệ, lao động, lợi nhuận, doanh thu,…Đối tượng phân loại chủ yếu chỉ giới hạn trong các doanh nghiệp nhà nước với mục đích chủ yếu là để xếp lương cho cán bộ quản lý doanh nghiệp. Trước năm 1998, một số địa phương, tổ chức đã xác định DNNVV dựa trên các tiêu chí khác nhau như: số lao động (dưới 500 người), giá trị tài sản cố định (dưới 10 tỷ đồng), số dư vốn lưu động (dưới 8 tỷ đồng) và doanh thu hàng tháng (dưới 20 tỷ đồng).
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, cần phân định DNNVV theo lĩnh vực: sản xuất và dịch vụ. Trong lĩnh vực sản xuất, doanh nghiệp có số vốn dưới 1 tỷ đồng, số lao động dưới 100 người là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có từ 1 8 z đến 10 tỷ đồng vốn và số lao động từ 100 đến 500 người là doanh nghiệp vừa. Trong thương mại, dịch vụ, doanh nghiệp có số vốn dưới 500 triệu đồng và dưới 50 lao động là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp có số vốn từ 500 triệu đồng đến 5 tỷ đồng và có từ 50 đến 250 lao động là doanh nghiệp vừa. Ngày 20/06/1998, Chính phủ đã có công văn số 681/CP-KTN về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo công văn này thì Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng và lao động thường xuyên dưới 200 người. Việc áp dụng một trong hai tiêu chí hoặc cả hai tiêu chí tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, ngành, lĩnh vực. Đây có thể được coi là văn bản đầu tiên đưa ra tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nó là cơ sở để cho phép thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho khu vực này.
Ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ- CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo quy định của Nghị định này, doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng và lao động dưới 300 người. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên chính thức quy định về doanh nghiệp nhỏ và vừa, là cơ sở để các cơ quan nhà nước, các tổ chức trong và ngoài nước thực hiện các chính sách, biện pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vào năm 2009, căn cứ vào đặc điểm, tình hình thực tế của đất nước cùng với yêu cầu bức thiết trong vấn đề hỗ trợ phát triển đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV.
Theo đó DNNVV được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm, trong đó tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên, cụ thể như sau: 9 z Bảng 1.1: Phân loại DNNVV tại Việt Nam Doanh Quy mô nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao Khu vực động nguồn vốn động nguồn vốn động I. Nông, lâm 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 10 người nghiệp và thủy trở xuống người đến đồng đến người đến trở xuống sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công nghiệp 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 và xây dựng trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thương mại 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 và dịch vụ trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến 50 người 50 tỷ đồng 100 người Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/06/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV.
Nghị định cũng nêu rõ: “Tùy theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hóa các tiêu chí nêu trên cho phù hợp”. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Đặc điểm của các DNNVV xuất phát trước hết từ chính quy mô của doanh nghiệp. Cũng như các DNNVV trên thế giới, với quy mô nhỏ, DNNVV Việt Nam cũng có những đặc điểm tương tự như ở các quốc gia khác. Ngoài ra do đặc trưng riêng của nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên các DNNVV Việt Nam còn có những đặc điểm riêng.
Những đặc điểm cơ bản của các DNNVV Việt Nam thể hiện như sau: 10 z - Các DNNVV ở Việt Nam thuộc nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức tổ chức doanh nghiệp, bao gồm từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân đến các hợp tác xã. Trong một thời gian dài, các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác nhau không được đối xử bình đẳng, bị phân biệt đối xử. Điều đó ảnh hưởng đến tâm lý, phong cách kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay, đồng thời cũng tạo ra những điểm xuất phát về tiếp cận nguồn lực không như nhau (trong giao đất, trong vay vốn ngân hàng,…) - Là những doanh nghiệp có quy mô vốn và lao động nhỏ, đây thường là những doanh nghiệp khởi sự thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Đặc điểm này đã làm cho các DNNVV gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động của mình.
- Khả năng quản lý hạn chế: các chủ doanh nghiệp thường là những kỹ sư hoặc kỹ thuật viên tự đứng ra thành lập và vận hành doanh nghiệp. Họ vừa là người quản lý doanh nghiệp, vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý không cao. Đôi khi, việc tách bạch giữa các bộ phận không rõ ràng, những người quản lý các bộ phận cũng thường tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. Nhiều chủ doanh nghiệp không được đào tạo qua một khóa quản lý chính quy nào, thậm chí chưa qua một khóa đào tạo nào.
- Trình độ tay nghề của người lao động thấp. Các chủ DNNVV thường không đủ khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong việc thuê những người lao động có tay nghề cao do hạn chế về tài chính. Bên cạnh đó, định kiến của người lao động cũng như của những người thân của họ về khu vực này vẫn còn khá đậm nét. Người lao động ít được đào tạo, đào tạo lại do kinh phí hạn hẹp vì vậy trình độ thấp và kỹ năng thấp.
Ngoài ra, sự không ổn định khi làm việc cho các DNNVV, cơ hội để phát triển thấp tại các doanh nghiệp này cũng tác động làm cho nhiều lao động có kỹ năng không muốn làm việc cho khu vực này. - Khả năng về công nghệ thấp do không đủ nguồn lực tài chính cho nghiên cứu triển khai, nhiều DNNVV có những sáng kiến công nghệ tiên tiến nhưng không đủ tài chính cho việc nghiên cứu triển khai nên không thể hình thành công nghệ mới hoặc bị các doanh nghiệp lớn mua lại những sáng kiến ấy với giá rẻ. Tuy nhiên các 11 z DNNVV rất linh hoạt trong việc thay đổi công nghệ sản xuất do giá trị của dây chuyền công nghệ thường thấp và họ thường có những sáng kiến đổi mới công nghệ phù hợp với quy mô của mình từ những công nghệ cũ và lạc hậu. Điều này thể hiện tính linh hoạt trong đổi mới công nghệ và tạo nên sự khác biệt về sản phẩm để các DNNVV có thể tồn tại trên thị trường.
- Các DNNVV Việt Nam thường sử dụng chính những diện tích đất riêng của mình làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh và rất khó thuê được các mặt bằng sản xuất. Vì vậy, các doanh nghiệp này rất khó khăn trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh khi quy mô doanh nghiệp được mở rộng. Một số doanh nghiệp thuê được đất thì gặp rất nhiều trở ngại trong việc giải phóng mặt bằng và đền bù. - Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài.
Nguyên nhân chủ yếu là do các DNNVV thường là những doanh nghiệp mới hình thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing không có và họ cũng chưa có nhiều khách hàng truyền thống. Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanh nghiệp này thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn. Ưu điểm và nhược điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Ưu điểm - Khả năng thỏa mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa, khuynh hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là sự mềm mại và nhanh chóng thích nghi với những nhu cầu và thay đổi của thị trường, DNNVV có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp lớn và sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa nhất hoặc các khoảng trống vừa và nhỏ của thị trường.
- Dễ dàng khởi sự và năng động nhạy bén với thị trường. Chỉ cần một lượng vốn hạn chế, một mặt bằng nhỏ hẹp các DNNVV có thể khởi sự kinh doanh. - Dễ phát huy bản chất hợp tác.