CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng ngân hàng thương mại a. Khái niệm tín dụng NHTM Tín dụng xuất phát từ chữ latinh là Creditium có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm.
Tiếng Anh và tiếng Pháp đều lấy từ gốc này và viết là Credit.Marx: "Tín dụng là sự chuyển nhượng lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu lại được lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu." Ông cho rằng: Tiền chẳng qua chỉ rời tay người sở hữu trong một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động. Cho nên tiền không phải được bỏ ra để thanh toán cũng không tự đem bán đi, nó chỉ đem cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại với điều kiện là nó sẽ quay về điểm xuất phát với một kỳ hạn nhất định. Tín dụng là hình thức vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Theo đó, người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng chứ không nhường quyền sở hữu cho người vay.
Do đó, sau một thời gian nhất định theo thỏa thuận, người vay sẽ hoàn trả vốn vay, có kèm một khoản tăng thêm về giá trị gọi là lợi tức khoản vay. Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa Luan van 7 thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.[7] Như vậy, về mặt hình thức tín dụng là một sự vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay. Về mặt nội dung kinh tế, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị có thể biểu hiện bằng tiền hoặc bằng hiện vật từ chủ thể này sang chủ thể khác với điều kiện phải hoàn trả theo thỏa thuận trước giữa hai bên. Nội dung chính của thỏa thuận đó là: thời hạn, số tiền lãi, cách thức phải trả.
[8, Trang 40] Hoạt động tín dụng phát sinh ngay từ khi hình thành nền kinh tế hàng hóa. Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, hoạt động tín dụng ngày càng được phát triển và đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh tế thị trường hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú. Tùy theo tiêu thức phân loại mà tín dụng được phân thành nhiều loại khác nhau.
Căn cứ vào tiêu thức chủ thể trong quan hệ tín dụng, thì tín dụng được chia thành các loại: tín dụng thương mại, tín dụng Nhà nước và tín dụng ngân hàng. Đặc điểm tín dụng ngân hàng - Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin: Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng trả nợ (gốc, lãi) đúng hạn. - Tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn: Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động. Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay.
Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định, thì có thể cấp được nhiều Luan van 8 tín dụng dài hạn; ngược lại, nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn sẽ gặp rủi ro thanh khoản. Mặc khác, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn. Nếu ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay, thì khách hàng sẽ không có đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng.
- Tín dụng phải trên nguyên tắc là hoàn trả cả gốc và lãi: Giá trị hoàn trả khi đến hạn phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, phần lớn hơn ấy chính là giá trị của quyền sử dụng vốn vay hay còn gọi là lãi vay. Khoản lãi này được ngân hàng sử dụng để bù đắp các chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận kinh doanh. Tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quá trình cho vay và vay diễn ra trên căn cứ pháp lý chặt chẽ, trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn - Tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng: Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thiên tai… Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng.
Phân loại tín dụng ngân hàng Ngân hàng cung cấp nhiều loại hình tín dụng cho nhiều đối tượng khách hàng với những mục đích sử dụng khác nhau. Căn cứ theo các tiêu thức khác nhau có thể phân loại tín dụng ngân hàng thành các loại sau: Luan van 9 v Căn cứ vào hình thức tài trợ Dựa vào hình thức tài trợ, tín dụng ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ như: cho vay, chiết khấu thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá ngắn hạn, bảo lãnh và cho thuê tài chính. - Cho vay: là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào những mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi. Đây là hình thức chủ yếu trong hoạt động tín dụng hiện nay của NHTM.
- Chiết khấu chứng từ có giá: là việc NHTM mua giấy tờ có giá của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Ngân hàng thực hiện việc chiết khấu các giấy tờ có giá cho khách hàng. Đối tượng chiết khấu là các giấy tờ có giá bao gồm: tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, thương phiếu, các giấy tờ có giá khác trị giá bằng tiền. - Bảo lãnh ngân hàng: là cam kết bằng văn bản của ngân hàng với bên có quyền ( Bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng ( Bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.
Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã trả thay. - Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là ngân hàng với khách hàng thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê. Trong thời hạn cho thuê, các bên không được đơn phương hủy ngang hợp đồng.
v Căn cứ vào thời hạn cho vay Thời hạn cho vay có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lời của tín dụng cũng như Luan van 10 khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể chia thành các loại sau: - Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng trở lại và thường được sử dụng để bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động cho doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân. Đối với NHTM, tín dụng ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng cao. - Cho vay trung hạn: thời hạn cho vay trên 12 tháng đến 60 tháng.
Tín dụng trung hạn nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định như: cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng san xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Tín dụng trung hạn cũng tài trợ nhu cầu về nhà ở, đồ dùng gia đình và phương tiện đi lại…đây là hình thức cho vay tiêu dùng. - Cho vay dài hạn: thời hạn cho vay trên 60 tháng, tín dụng dài hạn được sử dụng để tài trợ vốn cho các dự án đầu tư có quy mô lớn, cấp vốn xây dựng cơ bản như: đầu tư xây dựng các doanh nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường sá, bến cảng, sân bay, công trình thủy lợi, thủy điện…) v Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn Theo tiêu chí này, tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành các loại như: cho vay phục vụ sản xuất, kinh doanh công thương nghiệp, cho vay tiêu dùng cá nhân, cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay sản xuất nông nghiệp, cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu… v Căn cứ vào chủ thể vay vốn - Tín dụng doanh nghiệp - Tín dụng cá nhân, hộ gia đình Luan van 11 - Tín dụng cho các tổ chức tài chính: là các khoản tín dụng cấp cho các công ty tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, các tổ chức tài chính khác. v Căn cứ vào hình thức đảm bảo tín dụng Theo tiêu thức này thì tín dụng ngân hàng được chia thành hai loại sau: - Đảm bảo không bằng tài sản: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín của khách hàng để quyết định cho vay.
- Đảm bảo bằng tài sản: là loại cho vay dựa trên cơ sở bảo đảm tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Các phương thức cho vay - Cho vay từng lần Mỗi lần vay vốn, khách hàng và tổ chức tín dụng lập thủ tục vay vốn theo quy định và ký hợp đồng tín dụng. Thường áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn từng lần.