CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng thương mại 1.1 Khái niện về bảo lãnh: Thông thường trong các quan hệ có phát sinh nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ cần phải đảm bảo về việc hoàn thành các nghĩa vụ đó với bên có quyền, tuy nhiên có nhiều trường hợp bên có nghĩa vụ không có khả năng làm việc này. Trong trường hợp này, để tạo điều kiện cho các bên có thể giao kết hợp đồng mà vẫn đảm bảo được quyền lợi cho người có quyền, pháp luật hiện hành đã có quy định rằng bên thứ ba có thể đứng ra cam kết thay cho bên có nghĩa vụ với người có quyền về việc sẽ thay người có nghĩa vụ để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ. Tại Việt Nam, căn cứ Khoản 1 ở Điều 335 trong Bộ luật Dân sự ban hành vào năm 2015 khái niệm bảo lãnh (BL) được hiểu là việc bên thứ ba cam kết với bên có quyền lời rằng mình sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ khi mà đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ với bên có quyền lợi. Như vậy theo định nghĩa trên, trong mối quan hệ bảo lãnh sẽ có ít nhất 03 bên có liên quan gồm: Bên có nghĩa vụ (Bên được bảo lãnh), Bên có quyền lợi (Bên nhận bảo lãnh) và Bên thứ ba (Bên bảo lãnh).
Về mối liên hệ giữa các bên: - Trong mối quan hệ giữa Bên nhận bảo lãnh và Bên được bảo lãnh là mối quan hệ có nghĩa vụ, trong đó dùng bảo lãnh ngân hàng để đảm bảo nghĩa vụ của Bên được bảo lãnh với Bên nhận bảo lãnh. - Trong mối quan hệ giữa Bên nhận bảo lãnh và Bên bảo lãnh được thể hiện qua cam kết bảo lãnh, bên bảo lãnh dùng uy tín của mình để đảm bảo nghĩa vụ của Bên được bảo lãnh sẽ được thực hiện. - Trong mối quan hệ giữa Bên bảo lãnh và Bên được bảo lãnh là quan hệ mà trong đó Bên được bảo lãnh sẽ phải trả lại cho Bên bảo lãnh các lợi ích mà Bên bảo lãnh đã thay mình thực hiện cho Bên nhận bảo lãnh. Quyền lợi và nghĩa vụ mỗi bên trong bảo lãnh được thể hiện bằng văn bản 8 (hợp đồng) và được ký kết bởi các bên tham gia.
Đối tượng và phạm vi bảo lãnh: - Đối tượng của bảo lãnh là các cam kết của bên bảo lãnh về việc sẽ thực hiện thay nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh đối với Bên nhận bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện đúng cam kết bảo lãnh. Tuy nhiên để cam kết này được thực hiện thì bên bảo lãnh phải có tài sản hoặc công việc phù hợp để đáp lại lợi ích của bên nhận bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh - Phạm vi của bảo lãnh có thể là tòa bộ nghĩa vụ hoặc một phần nghĩa vụ của Bên được bảo lãnh. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu không thì bên bảo lãnh phải đứng ra bảo lãnh cả tiền lãi tính trên dư nợ gốc trong phạm vi bảo lãnh. Không những vậy bên bảo lãnh cũng còn phải bảo lãnh cả khoản tiền phạt và các khoản tiền bồi thường thiệt hại (nếu có).
Như vậy, để xác định xem phạm vi bảo lãnh bao gồm bao nhiêu phần so với tổng giá trị của nghĩa vụ ban đầu chúng ta còn phải xem xét vào nội dung cam kết bảo lãnh của người bảo lãnh Thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: Khi mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên được bảo lãnh. Trong trường hợp bên nhận bảo lãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh thì bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ đối với phần còn thiếu Trong Nghị Định số 21/2021/NĐ-CP có quy định nghĩa vụ bảo lãnh đã bị vi phạm thì Bên đứng ra bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong một số trường hợp cụ thể như sau: - Bên được bảo lãnh đã không thực hiện nghĩa vụ của mình đúng trong thời hạn đã cam kết; - Bên được bảo lãnh không hoàn thành nghĩa vụ trước thời hạn theo thỏa thuận; - Bên được bảo lãnh có chấp hành và thực hiện nghĩa vụ của mình nhưng việc thực hiện đó không được đầy đủ; 9 - Bên được bảo lãnh có thực hiện tuy nhiên lại thực hiện không đúng nội dung của cam kết; - Các bên có thể đàm phán, thương lượng và đi đến thống nhất rằng trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình thì khi đó bên bảo lãnh mới phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh; - Nếu không có các thỏa thuận khác thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đã cam kết trong cam kết bảo lãnh của mình khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh.2 Khái niện về bảo lãnh Ngân hàng: Khái niệm bảo lãnh ngân hàng (BLNH) chưa có một định nghĩa thống nhất trong các văn bản luật pháp quốc tế cũng như các thông lệ được sử dụng phổ biến trên thế giới. Song khi nghiên cứu về bảo lãnh ngân hàng, khái niệm về bảo lãnh ngân hàng có thể được hiểu như sau: Bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp đảm bảo mang tính dự phòng, theo đó, định chế tài chính phát hành cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên nhận bảo lãnh thay cho khách hàng khi khách hàng đã vi phạm nghĩa vụ đã cam kết. Về mặt học thuật, BLNH cũng được xem như một dạng cấp tín dụng dựa trên uy tín và là hình thức kinh doanh ngân hàng không dùng tới vốn.
Tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 và Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25/06/2015 của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam (NHNN) thì bảo lãnh ngân hàng được hiểu là hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng. Trong đó TCTD phát hành cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc mình sẽ đứng ra trả nợ thay cho khách hàng của mình khi khách hàng thực hiện không đầy đủ hoặc không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khi đó KH phải nhận nợ và có nghĩa vụ trả lại cả vốn và lãi cho TCTD theo các thỏa thuận đã thống nhất trước đó Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả chỉ đi vào cứu các vấn đề liên quan tới bảo lãnh do Ngân hàng thương mại (NHTM) phát hành, trong đó 10 NHTM là loại TCTD được Nhà nước cho phép thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ của Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận.2 Mối quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh ngân hàng thương mại 1.1 Các bên liên quan trong bảo lãnh ngân hàng thương mại Trong mối quan hệ bảo lãnh ngân hàng về cơ bản gồm có ba bên tham gia gồm: - Bên bảo lãnh là NHTM sẽ đứng ra phát hành cam kết BL. Có thể có một hoặc nhiều NHTM cùng phục vụ cho bên được bảo lãnh.
- Bên được bảo lãnh có thể là cá nhân hoặc các tổ chức trong và ngoài nước có đủ điều kiện được NHTM chấp thuận phát hành cam kết BL. - Bên nhận bảo lãnh có thể là tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng bảo lãnh do bên bảo lãnh hoặc bên xác nhận bảo lãnh phát hành - Ngoài ra, trong một số loại bảo lãnh ngân hàng đặc thù còn có thêm một số bên tham gia trong bảo lãnh như: - Bên bảo lãnh đối ứng là NHTM (TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, TCTD ở nước ngoài) tham gia để thực hiện bảo lãnh đối ứng cho bên được bảo lãnh - Bên xác nhận bảo lãnh là NHTM (TCTD, chi nhánh NH nước ngoài, TCTD ở nước ngoài) tham gia thực hiện việc xác nhận BL cho bên bảo lãnh 1.2 Mối quan hệ của các bên liên quan trong bảo lãnh thương mại Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ các bên trong bảo lãnh ngân hàng thương mại. Bên bảo lãnh Bên được bảo lãnh (1) Bên nhận bảo lãnh 11 Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Mối quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh là mối quan hệ ban đầu, là tiền đề để bên được BL phát sinh đề nghị cấp bảo lãnh. Bên được bảo lãnh ký kết các hợp đồng dưới dạng như: hợp đồng mua bán, hợp đồng thi công, hợp đồng phân phối … với bên nhận bảo lãnh.
Bên được BL phải thực hiện các cam kết đã thống nhất trong hợp đồng với bên nhận bảo lãnh. (1) Quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh: Trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa Bên nhận BL và bên được BL và dựa trên đề nghị của bên được bảo lãnh, sau quá trình thẩm định, nếu NHTM đồng ý chấp thuận cho bên được bảo lãnh, NHTM sẽ phát hành cam kết bảo lãnh. Bên được bảo lãnh và NHTM sẽ giao kết với nhau qua Hợp đồng cấp bảo lãnh. Trong hợp đồng này có quy định quyền lợi cũng như trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện bảo lãnh của NHTM.
Trường hợp Ngân hàng phải trả nợ thay theo cam kết bảo lãnh thì Bên được BL phải có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền đó (bảo gồm gốc, lãi và các chi phí có liên quan) cho NHTM. (2) Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh: Bên BL có nghĩa vụ trả nợ thay cho bên được BL trong trường hợp bên được bảo lãnh làm sai các quy định trong cam kết bảo lãnh của bên bảo lãnh đã phát hành cho bên nhận bảo lãnh. Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh được thông qua cam kết bảo lãnh dưới hình thức là Hợp đồng bảo lãnh hoặc Thư bảo lãnh.