CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại NHTM.1 Khái niệm xếp hạng tín dụng. XHTD được hiểu khái quát là kỹ thuật đánh giá rủi ro tín dụng do các tổ chức xếp hạng thực hiện và công bố dựa trên các tiêu chí phản ánh khả năng tài chính và uy tín tín dụng của người vay nợ hoặc khả năng thanh toán của các tổ chức đối với các khoản tiền nghĩa vụ, bao gồm gốc và lãi, của các công cụ nợ mà các tổ chức này phát hành. Tổ chức phát hành có thể là chính phủ cấp quốc gia, cấp tỉnh, thành phố hay các công ty. Chúng ta có thể điểm qua một số định nghĩa về xếp hạng tín dụng như sau: - Theo công ty Moody’s thì XHTD là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ.
(Moody’s, 2008) - Theo Standard and Poor’s, xếp hạng tín nhiệm là đánh giá khả năng tín dụng của bên phải thực hiện nghĩa vụ tài chính trong tương lai dựa trên những yếu tố hiện tại và quan điểm của người đánh giá. Nói cách khác, xếp hạng tín dụng được coi như là chỉ báo về độ an toàn khi đầu tư vào các giấy tờ có giá của tổ chức, chẳng hạn như trái phiếu, cổ phiếu hay những loại chứng chỉ nợ tương tự khác. (Standard & Poor's, 2006) Như vậy, hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng là một quy trình đánh giá khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của một khách hàng đối với một ngân hàng như việc trả lãi và trả gốc nợ vay khi đến hạn hoặc các điều kiện tín dụng khác nhằm đánh giá, xác định rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Mức độ rủi ro tín dụng thay đổi theo từng đối tượng khách hàng và được xác định thông qua quá trình đánh giá bằng thang điểm, dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng tại thời điểm chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Vai trò quan trọng của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp đối với ngân hàng thương mại. Đối với các ngân hàng thương mại, xếp hạng tín dụng có vai trò vô cùng quan trọng (Lê Tất Thành, 2012). Theo nghiên cứu của Lê Tất Thành, vai trò của xếp hạng tín dụng doanh nghiệp đối với ngân hàng thương mại được trình bày như sau: Là căn cứ để ra quyết định cấp tín dụng: xác định hạn mức tín dụng, thời hạn, mức lãi suất, biện pháp tiền vay…Phân tích tài chính chỉ là một trong các nội dung đánh giá doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là hệ quả tổng hợp của nhiều phương diện tác động: môi trường kinh doanh, chất lượng đội ngũ nhân sự, chất lượng quản trị,… Do đó XHTD cung cấp một đánh giá tổng quát trên các yếu tố giúp ngân hàng đưa ra quyết định cấp tín dụng chính xác. Từ các đánh giá này, ngân hàng xây dựng hạn mức, thời gian vay, mức lãi suất, biện pháp tiền vay,… đối với khách hàng.
Giám sát đánh giá khách hàng khi khoản tín dụng đang còn dư nợ. Thứ hạng khách hàng cho phép ngân hàng dự báo chất lượng tín dụng và có biện pháp đối phó kịp thời. Từ đó hạn chế rủi ro tín dụng và những rủi ro khác của ngân hàng. Hệ thống XHTD của NHTM nhằm cung cấp dự đoán về khả năng xảy ra rủi ro tín dụng, có thể được hiểu là sự khác biệt về mặt kinh tế giữa những điều khoản mà người đi vay cam kết thanh toán với thực tế mà ngân hàng thực sự nhận được.
Đồng thời cũng hỗ trợ ngân hàng trong việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, tiến tới mục đích tối đa hóa lợi nhuận và bảo vệ sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Khái niệm rủi ro được xét đến ở đây là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn có thể ước đoán được xác suất xảy ra. Khái niệm tín dụng được hiểu là quan hệ chuyển giao quyền sử dụng vốn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay theo nguyên tắc có hoàn trả. Quan hệ tín dụng dựa trên nền tảng sự tin tưởng lẫn nhau giữa các chủ thể.
Nền tảng tin tưởng này rất dễ dàng bị phá vỡ và mang tính cảm tính, chính bởi vậy cần có một công cụ ước lượng mức độ tin tưởng này. Hệ thống XHTD cung cấp một ước lượng về mức độ tin tưởng của khách hàng thông qua các thang điểm và hạng tín dụng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Hệ thống XHTD giúp ngân hàng giảm thiểu tổn thất từ rủi ro tín dụng xảy ra. Bởi vì hệ thống XHTD cung cấp một phân tích tổng quát, toàn diện và khoa học về khả năng đảm bảo trả nợ của khách hàng.
Một kết quả XHTD chính xác, giúp cho việc ra quyết định tín dụng được chính xác hơn, từ đó giảm thiểu những quyết định sai lầm, làm giảm bớt thiệt hại từ rủi ro tín dụng. Hệ thống XHTD tạo ra một cơ chế đánh giá khách quan và thống nhất về khách hàng trên toàn hệ thống của ngân hàng. Ở góc độ quản lý toàn bộ danh mục đầu tư, hệ thống XHTD còn giúp ngân hàng: + Phát triển chiến lượng Marketing nhằm hướng tới các khách hàng có ít rủi ro và phát hiện khách hàng tiềm năng. + Ước lượng mức vốn đã cho vay sẽ không thu hồi được để trích lập dự phòng tổn thất tín dụng.
Hệ thống xếp hạng giúp cho việc nâng cao chất lượng quản trị rủi ro ngân hàng, tăng cường khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Như phân tích ở trên, xếp hạng tín dụng có vai trò rất quan trọng đối với ngân hàng. Song tất cả các vai trò đó chỉ có được khi kết quả XHTD chính xác và khách quan. Khi kết quả XHTD không chính xác thì hậu quả sẽ rất lớn, tổn thất nặng nề tới lợi nhuận cũng như ảnh hưởng đến sự tồn tại của ngân hàng.
Khi kết quả XHTD sai, các quyết định về việc đồng ý cho khách hàng vay, hạn mức cho vay của khách hàng cũng không đúng, làm cho mọi chính sách và biện pháp quản lý khách hàng đều sai, dẫn đến nguy cơ khách hàng không trả được nợ. Vậy, XHTD có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng trong các quyết định cho vay.3 Nguyên tắc xếp hạng tín dụng Nguyên tắc chủ yếu của XHTD là phân tích tín dụng trên cơ sở ý thức và thiện chí trả nợ của người đi vay đối với từng khoản vay; đánh giá rủi ro dài hạn dựa trên ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh và xu hướng khả năng trả nợ trong tương lai; đánh giá rủi ro toàn diện và thống nhất dựa vào hệ thống ký hiệu xếp hạng. Theo Trần Đắc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Sinh trong tài liệu “Định mức tín nhiệm tại Việt Nam” thì việc phân tích dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau: Phân tích các yếu tố định tính và định lượng. Các chỉ tiêu liên quan đến xếp hạng gồm : + Các dữ liệu định lượng : Là những quan sát được đo lường bằng số, các dữ liệu được lấy trên các báo cáo tài chính.
Ví dụ như những chỉ tiêu lợi nhuận, chi phí trả lãi vay, vốn lưu động. + Các dữ liệu định tính : Đó là những quan sát không đo lường được bằng số. Trong tập dữ liệu định tính mỗi quan sát sẽ và chỉ thuộc về một kiểu loại nào đó. Ví dụ như tình hình cạnh tranh, xu hướng thị trường, vị thế kinh doanh của công ty, sự đa dạng hoá hoạt động và các luật lệ, quy định.
Việc phân tích được tiến hành bằng phương pháp “trên - xuống”, có nghĩa là phân tích từ các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến khách hàng đến các yếu tố của bản thân khách hàng theo trình tự sau: + Phân tích rủi ro mang tính vĩ mô về xu hướng của quốc gia, ngành như tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia, sự ổn định về chính trị, chính sách tài chính, sự mở cửa thị trường …; + Phân tích rủi ro hoạt động kinh doanh như tình hình cạnh tranh, xu hướng thị trường, vị thế kinh doanh của khách hàng, sự đa dạng hoá hoạt động và các luật lệ quy định; + Phân tích rủi ro tài chính bao gồm hàng loạt chỉ tiêu phụ thuộc vào từng ngành nghề, kết hợp so sánh giữa rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh, xem xét độ linh hoạt tài chính cũng như chính sách tài chính; + Phân tích hướng phát triển của khách hàng như chất lượng ban quản lý và chiến lược kinh doanh; + Phân tích tình trạng pháp lý của khách hàng. Xây dựng thang điểm các chỉ tiêu đơn giản, dễ hiểu, dễ so sánh: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Các chỉ tiêu được cho điểm, sau đó tổng hợp lại và phản ánh qua ký hiệu xếp hạng.4 Các chỉ tiêu thường dùng để xếp hạng hạng tín dụng doanh nghiệp. Để xếp hạng tín dụng doanh nghiệp, thông thường gồm hai nhóm chỉ tiêu sau : 1.1 Các chỉ tiêu tài chính: Đây là các chỉ tiêu định lượng, được lấy trực tiếp hoặc kết quả tính toán dựa trên các báo cáo tài chính như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. Các tỷ số khả năng thanh toán.
+ Khả năng thanh toán tổng quát. + Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. + Khả năng thanh toán nhanh. + Khả năng thanh toán nợ.
+ Khả năng thanh toán lãi vay. Các chỉ số phản ánh hiệu suất sử dụng vốn sản xuất kinh doanh. + Vòng quay vốn lưu động. + Vòng quay toàn bộ tài sản.
+ Vòng quay hàng tồn kho. + Vòng quay các khoản phải thu Các tỷ số phản ánh kết cấu tài chính. + Tỷ số tự tài trợ. + Tỷ số nợ Các tỷ số phản ánh khả năng sinh lời.
+ Tỷ suất lợi nhuận của tài sản (ROA). + Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE).4 2 Các chỉ tiêu phi tài chính: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Đây là các chỉ tiêu định tính, nguồn của các chỉ tiêu này được lấy không phải chỉ dựa trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, các thông tin này được thu thập từ nhiều nguồn bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.