Mở đầu Tổng thuật kết quả nghiên cứu 1. Những van đề chung về hoàn thiện BLTTHS nham bảo đảm nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. Thực trạng thực hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong tô tụng hình sự và nguyên nhân về pháp luật của thực trạng. Kiến nghị hoàn thiện quy định của BLTHS nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyên cơ bản của công dân.
Tôn trong và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân - Nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự. Pháp luật quốc tế về quyên con người của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự. Các quyền cơ bản hiến định của công dân trong lĩnh vực tổ tụng hình sự. Một số tiêu chí cơ bản đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thông pháp luật và pháp luật tố tụng hình sự.
Kiến nghị sửa đổi, bố sung một số quy định của BLTTHS nham bảo đảm quyền bình dang trước pháp luật của công dan trước pháp luật. Hoàn thiện quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm quyền bat khả xâm phạm về thân thể của công dân. Bảo đảm quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân trong tô tụng hình sự. Hoàn thiện BLTTHS nhằm bảo đảm quyền không bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Bồi thường thiệt hại vật chất và phục hồi danh dự cho người bị oan trong tố tụng hình sự. Kiến nghị sửa đôi, bố sung một sé quy dinh cua BLTTHS nham bao dam quyên khiếu nại, tổ cáo của công dân. Tài liệu tham khảo TONG THUAT KET QUÁ NGHIÊN CUU I. NHUNG VAN DE CHUNG VE HOAN THIEN BLTTHS NHAM BAO DAM NGUYEN TAC TON TRONG VA BAO VE CAC QUYEN CO BAN CUA CONG DAN 1.
Một số nhận thức cơ ban về quyền con người va quyền công dân Quyền con người là đặc tính tự nhiên vốn có, xuất hiện cùng với sự hình thành của con người và xã hội loài người. Tuy nhiên quyền con người chỉ được đề cập tới khi xã hội phân chia thành giai cấp. Xã hội cộng sản nguyên thuỷ với đặc trưng là không có sự phân biệt đối xử vì vậy tất cả các thành viên trong xã hội đều bình dang. Đặc trưng này phan ánh yếu tổ tự nhiên vốn có của con người đó là sự bình đăng giữa người với người.
Khi xã hội phân chia thành giai cấp, con người được đưa về những vị trí khác nhau trong xã hội: chủ nô và nô lệ; thống tri và bi trị.dù răng đều là con người. Điều này đã phá vỡ ban chat tự nhiên vốn có của con người đó là sự bình đăng và quyền con người bắt đầu được nhắc đến như một đòi hỏi tat yêu khách quan. Thời kỳ chiếm hữu nô lệ và thời kỳ phong kiến, mặc dù con người bị trà đạp một cách thô bạo nhưng quyền con người mới chỉ được đề cập đến trong triết học, chính trị hoặc tôn giáo. Khi cách mạng tư sản nô ra ở châu Âu và nhà nước tư sản thành lập thì lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại quyền con người đã được ghi nhận trong pháp luật của các nhà nước tư sản.
Tuyên ngôn của Hợp Chủng quốc Hoa kỳ năm 1776 khang định “tất cả mọi người sinh ra đều bình dang, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ay có quyền sông, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 cũng khăng định “tất cả mọi người đều bình dang và luôn luôn bình đăng về quyền lợi”. Xét ở phương diện nhân văn việc ghi nhận những giá trị của quyền con người trong pháp luật là đóng góp cho tiến trình phát triển của nhân loại và cùng với lịch sử, quyền con người dần dần được ghi nhận và trở thành một nội dung quan trọng của pháp luật quốc tế cũng như luật quốc gia. Tóm lại, quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc tế và quốc gia.
Quyên con người có những tính chât sau: - Tính phổ biến: Quyền con người đó là những gi bam sinh, vốn có của con người được áp dụng bình đắng cho mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vi bat kỳ lý do gi. - Tính không thể chuyên nhượng: Quyền con người không thé bi tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bat cứ chủ thé nào, ké cả co quan và viên chức nhà nước, trừ một số trường hợp đặc biệt (ví dụ, người có tội bi tước tự do). - Tính không thé phân chia: Các quyền con người đều có tam quan trọng như nhau, không có quyên nào có giá trị hơn quyền nào. Việc hạn chế hay tước bỏ bat kỳ quyền nào cũ đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người.
Trong bối cảnh cụ thể, đối tượng cụ thé sự ưu tiên đối với những quyền bị de dọa vi phạm sẽ nhiều hơn quyền khác. - Tính liên hệ và phụ thuộc: Quyền con người liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau. Việc bao đảm hay vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp đảm bảo các quyền khác.' Xét trên phương diện khoa học pháp lý, căn cứ vào ban chất và đặc điểm, quyền con người được chia thành hai nhóm: quyền dân sự - chính trị; quyền kinh tế - xã hội và văn hóa. Xét về mặt lịch sử quyền dân sự - chính trị là những nhân tố đầu tiên tạo nên nội dung quyền con người.
Vì vậy, lịch sử của quyền dân sự - chính trị gắn liền với lịch sử phát triển của quyền con người. Quyền dân sự - chính trị liên quan mật thiết đến tự do cá nhân, bao gồm: - Quyền dan sự: quyền tự đo đi lại và cư trú, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, quyền được pháp luật bảo hộ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, quyền thừa kế, sở hữu.Đây là những quyền đặc biệt quan trọng bởi nó gắn chặt với mỗi cá nhân không thé bị tước đoạt trong bat kỳ trường hợp nào. - Quyền chính trị: gồm các quyền đảm bảo quá trình tham gia và quản lý nhà nước, xã hội như quyền bầu cử, ứng cử, tự do ngôn luận, báo chí, hội họp v. Căn cứ vào tính chất, nội dung của các quyền dân sự chính trị được nhìn nhận từ hai góc độ khác nhau đó là quyền tuyệt đối và quyền tương đối”.
Quyền ' Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật, Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng đồng chủ biên, Giáo trình Ly luận và phat triển về quyên con người. NXB Chính trị quốc gia, 2009, tr. tuyệt đối là những quyền có mỗi quan hệ mật thiết đến tình trạng cuộc sống cá nhân, đến nhân phẩm, thé chất con người mà không có những quyền này thì cuộc sống và tính mang cá nhân khó có thé dam bảo như quyền không bị bat làm nô lệ, quyền không bị tra tấn, nhục hình, quyền được bào chữa. Vì vậy, nhà nước và các cơ quan công quyền phải thi hành mà không kèm theo một điều kiện ràng buộc nào.
Quyền tương đối là những quyền mà việc thực thi cần thiết phải xem xét mối tương quan giữa những quyền đó trong việc đảm bảo tính hiệu quả của những quyền khác như quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng tôn giáo. Vấn đề đặt ra là mức độ thực hiện nó như thé nào dé thực sự đảm bảo quyền này nhưng không gây nên những tác động ngược chiều ảnh hưởng đến những quyền tự do khác. Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và quốc tế Quyền công dân là các quyền con người được ghi nhận trong luật quốc gia, gắn liền với tư cách công dan (là người có quốc tịch của quốc gia đó). Khái niệm quyền cơ bản của công dân bắt nguồn từ khái niệm mối quan hệ cơ bản giữa nhà nước và công dân.
Bắt kỳ nhà nước nào muốn tồn tại và được công nhận đều phải xác lập chủ quyền của mình đối với một phạm vi dân cư và lãnh thé nhất định. Đối với một nhà nước hiện đại, khi xác định chủ quyền đối với phạm vi dân cư có nghĩa là xác định mỗi quan hệ cơ bản giữa nhà nước đó với người đân của mình. Khi chủ quyền của nhà nước đối với người dân được xác lập thì cũng đồng thời xác lập mối quan hệ công dân. Vì vậy người ta thường nói, quan hệ công dan chính là cơ sở pháp lý dé hình thành mối quan hệ co bản giữa nhà nước và công dân.
Ở Việt Nam, nội dung của mối quan hệ này chính là việc nhà nước bảo đảm cho người công đân của mình được hưởng những quyên tối thiểu gì và người công dân phải thực hiện những nghĩa vụ tối thiêu gi đối với nhà nước. Nói một cách khác, khi một người đã trở thành công dân Việt Nam thì người công dan đó được Nhà nước Việt Nam cam kết bảo đảm có được những quyền tối thiêu nhất định, đó là những quyền cơ bản của công dân, và nhà nước Việt Nam cam kết về điều này bằng việc ghi nhận những quyền cơ bản của công dân Việt Nam trong Hiến pháp, đạo luật cơ bản của mình. 2 Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Mét số vấn dé về quyền dan sự và chính tri, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1997, tr. 28 10 Trong mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước Việt Nam và người công dân Việt Nam, quyền cơ bản của công dan tương ứng với nghĩa vụ của nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm cho những quyền đó được thực thi trên thực tế.
Điều này cũng có nghĩa là tất cả các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước, trong phạm vi chức năng của mình, có nghĩa vụ và trách nhiệm bảo đảm cho những quyền đó được thực thi. Mỗi khi một quyền cơ bản của công dân đã được quy định trong hiến pháp thì tất cả các cơ quan nhà nước đều phải bảo đảm cho quyền đó được thực thi, không loại trừ bất kỳ một cơ quan nào.