Chương 1: Cơ sở lý luận về họat động Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hoạt động Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng 6. Điểm nổi bật của luận văn - Khảo cứu thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại VPBank. - Đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng trong giai đoạn hiện nay dựa trên quy trình quản trị rủi ro tín dụng theo Ủy Ban Basel và mô hình quản trị tín dụng tập trung. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Rủi ro tín dụng Ngân hàng 1.1 Khái niệm về rủi ro và rủi ro tín dụng Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho KH sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả, kèm theo lợi tức khi đến hạn. Tín dụng có thể hiểu một cách đơn giản là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc tài sản cho bên kia bằng nhiều hình thức như: cho vay, bán chịu hàng hóa, chiết khấu, bảo lãnh,…. được sử dụng trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó đã thỏa thuận. Tín dụng NH (sau đây gọi tắt là tín dụng) là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ NH cho KH trong một thời gian nhất định với một chi phí nhất định.
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh NH là những biến cố không mong đợi khi xảy ra, dẫn đến tổn thất về tài sản của NH, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Theo Ủy ban Basel: RRTD mà KH vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết. Cũng theo Ủy ban này, “Rủi ro thất thoát đối với một NH là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kì sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 nghĩa vụ hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kì sự vi phạm nghiêm trọng nào đó với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả nợ gốc và lãi” Tại Việt Nam, theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN (ngày 22 tháng 04 năm 2005) của thống đốc NHNN Việt Nam thì “RRTD trong hoạt động NH của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của TCTD do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình cam kết”. RRTD phát sinh từ việc NH cấp tín dụng cho KH trên cơ sở hợp đồng tín dụng, theo đó, người vay tiền cam kết sẽ thanh toán cả gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn cho NH.
Chính vì vậy, tại thời điểm ký kết hợp đồng và cấp tín dụng, NH phải chắc chắn được khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hẹn của KH với một xác suất cao.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng RRTD mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, NH chuyển giao quyền sử dụng cho KH trong một thời hạn nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi nên những thất thoát về vốn xảy ra trong quá trình sử dụng vốn của KH, NH không thể kiểm soát được. Do đó, khi KH gặp khó khăn hoặc thất bại trong kinh doanh thì khoản tín dụng trên của NH sẽ gặp rủi ro. RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp: Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của RRTD do đặc trưng của hoạt động NH. Do đó, khi phòng ngừa và xử lý RRTD phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xác định nguyên nhân, bản chất và hậu quả do RRTD mang lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.
RRTD có tính tất yếu, tức luôn luôn tồn tại và gắn liền với HĐTD của các NH: Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho NH không thể nắm bắt được các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với NH. Kinh doanh NH thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.3 Phân loại Rủi ro tín dụng Ngân hàng Có nhiều cách phân loại RRTD khác nhau tùy theo tiêu chí, mục đích nghiên cứu. Có các hình thức phân loại chủ yếu sau đây: Nếu căn cứ vào tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì RRTD đƣợc phân thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan. - Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc các chế độ, chính sách.
- Rủi ro chủ quan do nguyên nhân chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác. Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì RRTD đƣợc phân thành các loại sau: rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục: Hình 1.1: Phân loại Rủi ro tín dụng Ngân hàng Nguồn: Commercial Banking, The Management of Risk [15] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSBĐ, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của TSBĐ.
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro có liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của NH, được phân chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của KH vay.
+ Rủi ro tập trung là trường hợp NH tập trung cho vay quá nhiều đối với một số KH, cho vay quá nhiều KH hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc cùng một vùng địa lý nhất định. Ngoài ra còn có các hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay,….4 Các dấu hiệu nhận diện Rủi ro tín dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 RRTD xảy ra khi khách hàng không trả được nợ lãi và nợ gốc đúng hạn, đầy đủ. Do đó, dấu hiệu nhận biết RRTD được chia thành 4 loại: Khách hàng không trả lãi đúng hạn: đây là loại rủi ro có mức độ thấp vì ngoại trừ trường hợp khách hàng không muốn trả nợ, chiếm dụng vốn thì phần lớn đều xuất phát từ việc thiếu cân đối trong kỳ hạn thu nợ và trả nợ của khách hàng. Khi đó NH sẽ chuyển số lãi đó vào khoản mục lãi treo phát sinh.
Khách hàng không trả vốn đúng hạn: Khi khách hàng không trả được vốn đúng hạn thì tình hình dường như nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, đấy chưa phải là khoản mất mát của NH vì có thể tiến độ hoạt động kinh doanh của khách hàng bị chậm so với kế hoạch. Khi đó, NH sẽ chuyển số nợ đó sang mục nợ quá hạn phát sinh. Khách hàng không trả đủ lãi: Khi tình hình kinh doanh của khách hàng có thể đã kém hiệu quả đến mức không thể trả đủ lãi cho NH.
Khi đó, NH phải chuyển khoản lãi này vào khoản mục lãi treo đóng băng và thậm chí có thể phải thực hiện miễn giảm lãi cho khách hàng Khách hàng không trả đủ vốn cho vay: Tình huống xấu nhất xảy ra khi khách hàng không trả đủ vốn vay và lúc này NH đã bị mất vốn. Tại thời điểm này, NH sẽ chuyển khoản nợ vào mục nợ không có khả năng thu hồi hoặc phải xoá nợ, coi như khép lại một hợp đồng tín dụng không có hiệu quả.5 Nguyên nhân dẫn đến Rủi ro tín dụng Loại rủi ro này có thể phát sinh do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan từ phía KH và NH 1.1 Các nguyên nhân khách quan LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Từ phía KH: RRTD phát sinh có thể do những nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan. Về mặt chủ quan có thể do trình độ quản lý của KH yếu kém dẫn đến sử dụng vốn vay kém mục đích, sử dụng vốn vay sai mục đích làm ảnh hưởng khả năng trả nợ hoặc cũng có thể do KH thiếu thiện chí trong việc trả nợ, hoặc do tình hình tài chính yếu kém, thiếu minh bạch, các báo cáo mà KH cung cấp cho NH không trung thực, KH cố ý che giấu sự yếu kém của mình nhằm mục đích rút được tiền của NH.