CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.5 Rủi ro tín dụng 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của NH, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Trong hoạt động kinh doanh NH, tín dụng là hoạt động đem lại lợi nhuận chủ yếu của NH nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn. Do đó, rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng đến chất lượng kinh doanh NH. Anthony Saunder định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi NH cấp tín dụng cho KH, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của NH không thể được thực hiện đầy đủ cả về cả số lượng và thời hạn1.Koch, một khi NH nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi KH sai hẹn – có nghĩa là KH không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận.
Rủi ro tiềm ẩn là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc KH không thanh toán hay thanh toán trễ hạn2. Tại Việt nam, theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của TCTD, “rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của TCTD do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Tóm lại, rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NH, biểu hiện qua việc KH không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho NH. 1 : Anthony Saunder, Financial Institutions Management – A Modern Perpective 2 : Timothy W.Koch (1995), Bank Management, University of South Carolina, The Dryden Press LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -2- Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và GTCG, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của NH.
Tuy nhiên, rủi ro là yếu tố khách quan nên chúng ta không thể loại trừ hoàn toàn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác hại do chúng gây ra.2 Phân loại rủi ro tín dụng 1.1 Căn cứ vào tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân rủi ro: - Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ, chính sách. - Rủi ro chủ quan: do nguyên nhân chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác.2 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro: Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân thành các loại sau: Sơ đồ 1.1: Phân loại rủi ro tín dụng NH Rủi ro tín dụng Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro Rủi ro lựa chọn bảo đảm nghiệp vụ nội tại tập trung Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá KH. Rủi ro giao dịch bao gồm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -3- - Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. - Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSBĐ, chủ thể bảo đảm, hình thức bảo đảm vay và mức cho vay trên giá trị của TSBĐ.
- Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đén công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của NH. Rủi ro danh mục bao gồm: - Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của KH vay.
- Rủi ro tập trung: là trường hợp NH tập trung cho vay quá nhiều đối với một số KH, cho vay quá nhiều KH hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định,… 1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng rất đa dạng, bao gồm những nguyên nhân khách quan và những nguyên nhân chủ quan do các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng. Những nguyên nhân chủ quan có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng và NH có thể kiểm soát được nếu có những biệp pháp thích hợp. Nguyên nhân rủi ro tín dụng có thể phân thành 3 nhóm chính sau: 1.4 Nguyên nhân thuộc về phía NH - Cán bộ NH không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành đúng quy trình cho vay. - Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào lợi nhuận NH nên khi cho vay quá chú trọng vào lợi tức, cho vay đầu tư liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một KH, một nhóm KH hoặc một ngành kinh tế nào đó.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -4- - Quy chế, quy trình tín dụng chưa chặt chẽ, chưa chú trọng đến phân tích KH, xếp loại rủi ro để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ, quá coi trọng vào TSBĐ hoặc phương pháp phân tích còn hạn chế, chưa chính xác. - Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn đề của CBTD còn hạn chế, nhất là đối với các ngành đòi hỏi hiểu biết chuyên môn cao dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay. - Thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ, phân tích và thẩm định tín dụng chưa cẩn thận dẫn đến quyết định cho vay và đầu tư không hợp lý. - Thiếu kiểm tra, kiểm soát sau cho vay dẫn đến KH sử dụng vốn sai mục đích nhưng NH không ngăn chặn kịp thời.
- Cán bộ NH thiếu đạo đức nghề nghiệp, chẳng hạn như cấu kết với KH, cán bộ thẩm định dự án không trung thực, đánh giá cao về hiệu quả dự án cũng như khả năng trả nợ nhưng thực tế thì không đúng; định giá TSBĐ không chính xác hoặc không thực hiện đầy đủ thủ tục pháp lý cần thiết… 1.5 Nguyên nhân thuộc về phía KH - Năng lực tài chính KH yếu kém, thiếu minh bạch, sử dụng vốn sai mục đích dẫn đến tình trạng sản xuất kinh doanh thua lỗ. - Năng lực và trình độ quản lý của người điều hành yếu kém dẫn đến sử dụng vốn vay kém hiệu quả hoặc thất thoát ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. - KH thiếu thiện chí trả nợ, cố tình chây lỳ không muốn trả nợ hoặc cố tình lừa đảo NH.6 Nguyên nhân khách quan từ môi trường bên ngoài Nhóm nguyên nhân này bao gồm sự thay đổi tiêu cực của môi trường tự nhiên (thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn,…), hoặc sự thay đổi các yếu tố thị trường, chế độ, chính sách của Nhà nước, đối thủ cạnh tranh, sự biến động của các yếu tố như tỷ giá, lãi suất, lạm phát… làm cho các doanh nghiệp không có khả năng thích ứng kịp thời với môi trường kinh doanh, từ đó gặp khó khăn trong hoạt động, rơi vào tình cảnh phá sản, không trả được nợ NH; đối với cá nhân vay vốn sẽ bị thất nghiệp, thu nhập giảm sút nên cũng khó có khả năng trả nợ cho NH. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng 1.1 Đối với NH Khi rủi ro tín dụng xảy ra, NH không thu hồi được lãi cho vay, một phần hoặc toàn bộ nợ gốc tiền vay nhưng vẫn phải trả lãi cho người gửi tiền khi đến hạn, dẫn đến NH mất cân đối thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm, lợi nhuận giảm khi phải trích lập quỹ dự phòng, hiệu quả kinh doanh thấp.
Nếu rủi ro tín dụng lớn, nợ thất thu với tỷ lệ cao, NH bị lỗ và mất vốn kinh doanh, dẫn đến mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin của người gửi tiền cũng như người vay, năng lực tài chính giảm sút, uy tín và sức cạnh tranh giảm. Kết quả kinh doanh của NH ngày càng xấu, thậm chí nếu trầm trọng hơn có thể dẫn đến phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.2 Đối với nền kinh tế xã hội Hoạt động của một NH trong một quốc gia liên quan đến hệ thống NH và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế. Do vậy, nếu một NH có kết quả hoạt động xấu dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu đến hệ thống các NH và các bộ phận kinh tế khác. Nếu không có sự can thiệp kịp thời của NHNN và Chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM, kết quả là các NH khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
NH thực hiện chức năng trung gian tài chính, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế. Do đó, khi rủi ro tín dụng xảy ra gây nên sự phá sản của NH sẽ làm cho nền kinh tế mất ổn định và ngưng trệ, mất cân đối về quan hệ cung cầu, lạm phát, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, tình hình kinh tế xã hội bất ổn… Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay nền kinh tế của mỗi quốc gia phụ thuộc ngày càng nhiều vào nền kinh tế khu vực và thế giới.