CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Thanh khoản trong ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm thanh khoản “Một ngân hàng được xem là có khả năng thanh khoản tốt nếu như ngân hàng có được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu. Điều này cho thấy, ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt khi ngân hàng có trong tay lượng vốn khả dụng với quy mô hợp lý hoặc ngân hàng có thể nhanh chóng huy động vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản” (Peter S Rose, 2004, trang 415) Như vậy thanh khoản của ngân hàng là khả năng ngân hàng đáp ứng tốt ngay tức khắc các nhu cầu chi trả.2 Cung và cầu thanh khoản Cung thanh khoản là nguồn cung ứng thanh khoản cho ngân hàng. Bao gồm các nguồn sau: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHNN,tiền gửi không kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng khác, tiền gửi có kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng khác đến hạn Đầu tư chứng khoán đến hạn, thu nợ vay khách hàng Bán tài sản Lãi và phí dịch vụ đã thu Tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn của khách hàng cá nhân, tổ chức kinh tế, Vay từ thị trường tiền tệ (vay ngân hàng nhà nước, các tổ chức tín dụng khác) Các khoản phải thu khác,… Cầu thanh khoản là các nhu cầu vốn cho các hoạt động khác nhau của ngân hàng. Cầu thanh khoản bao gồm các khoản sau: Khách hàng rút tiền từ tài khoản Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác Các khoản vay trên thị trường tiền tệ đến hạn Cam kết giải ngân, số dư L/C, bảo lãnh trong nước đến hạn Chi phí bằng tiền và thuế xuất hiện trong quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Thanh toán cổ tức bằng tiền Dự trữ bắt buộc, số dư tiền tối thiểu Các khoản phải trả khác 1.3 Trạng thái thanh khoản ròng Thông qua việc xác định cung cầu thanh khoản, có thể tính ra trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng.
Trạng thái thanh khoản ròng = Net Liquidity Position (NLP) = Cung thanh khoản – Cầu thanh khoản. Có ba trường hợp xảy ra đối với trạng thái thanh khoản ròng: Thặng dư thanh khoản (cung thanh khoản lớn hơn cầu thanh khoản): NLP >0, xảy ra khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, ngân hàng không tiếp cận được với khách hàng hoặc không lựa chọn được nhiều khách hàng để cho vay. Ngoài ra, nó còn xảy ra khi ngân hàng chiếm giữ quá nhiều tài sản có ở dạng trực tiếp hay gián tiếp không có khả năng sinh lời hay ngân hàng tăng vốn quá nhanh trong khi chưa có phương án sử dụng vốn hiệu quả. Thặng dư thanh khoản làm tăng chi phí hoạt động của ngân hàng.
Để giải tỏa trạng thái thặng dư thanh khoản, các giải pháp ngân hàng thường sử dụng đó là: Mua các chứng khoán làm dự trữ thứ cấp, cho vay trên thị trường tiền tệ, gửi tại các tổ chức tín dụng khác,… Thiếu hụt thanh khoản (Cung thanh khoản < cầu thanh khoản): NLP <0, xảy ra khi ngân hàng không đủ nguồn vốn để hoạt động (đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp,…). Việc thiếu hụt thanh khoản làm mất đi những cơ hội kinh doanh, đầu tư tốt có thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, thậm chí mất khách hàng, mất thị trường, sụt giảm niềm tin của khách hàng…Khi trạng thái thâm hụt thanh khoản xảy ra, ngân hàng cần tiến hành các biện pháp để bù đắp như:Bán dự trữ thứ cấp, vay qua đêm, vay tái chiết khấu tại Ngân hàng trung ương, huy động từ thị trường tiền tệ, sử dụng dự trữ bắt buộc,… Thanh khoản cân bằng (cung thanh khoản bằng cầu thanh khoản): NLP = 0, điều này rất khó xảy ra trong thực tế.2 Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Rủi ro thanh khoản 1.1 Khái niệm rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời hoặc cung ứng đủ thanh khoản với chi phí cao hoặc quá cao. Nói cách khác đây là rủi ro xuất hiện khi ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp thời các loại tài sản thành tiền mặt, hoặc không thể vay mượn để đáp ứng các nhu cầu thanh toán. Đây là rủi ro đặc trưng và phổ biến trong hoạt động ngân hàng thương mại.
Có nhiều người nhầm lẫn giữa khái niệm rủi ro thanh khoản và rủi ro thanh toán. Thực chất đây là hai rủi ro khác nhau. Rủi ro thanh toán là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không có đủ vốn để bù đắp cho phần giá trị sụt giảm đột ngột của tài sản và các khoản nợ và rủi ro thanh khoản khi xảy ra với mức độ nghiêm trọng sẽ dẫn đến rủi ro thanh toán.2 Nguyên nhân rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản xảy ra có thể do những nguyên nhân chủ quan hay khách quan. Chi tiết cụ thể như sau: Nguyên nhân bên trong: Ngân hàng có chiến lược và phương pháp quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả.
Ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn của cá nhân và định chế tài chính khác, sau đó chuyển hóa chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn. Điều này dẫn đến việc xảy ra tình trạng mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản sử dụng vốn và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động; mà thường gặp nhất là dòng tiền thu hồi từ các tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền chi ra để chi trả tiền gửi đến hạn. Nguyên nhân bên ngoài: Khách hàng mất niềm tin đối với ngân hàng gửi tiền. Họ rút tiền hàng loạt do lo sợ về khả năng chi trả của ngân hàng thương mại đối với khoản tiền gửi của mình.Nguồn vốn ngân hàng huy động từ khách hàng được sử dụng để cho vay và cần một khoảng thời gian nhất định để thu hồi.Việc khách hàng rút tiền hàng loạt khiến cầu thanh khoản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tăng đột ngột trong khi nguồn cung thanh khoản chưa đáp ứng kịp thời, trạng thái thanh khoản ròng âm, rủi ro thanh khoản xảy ra.
Ảnh hưởng của lãi suất đầu tư: Tiền gửi của ngân hàng rất nhạy cảm đối với sự thay đổi của lãi suất đàu tư. Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người rút vốn của họ ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn khách hàng vay tiền sẽ tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì có lãi suất thấp hơn. Như vậy, sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến cả khách hàng gửi tiền và vay tiền, kế đến cả hai tác động đến sự thay đổi trạng thái thanh khoản của ngân hàng Tình hình kinh tế có nhiều bất ổn, các ngân hàng không điều chỉnh kịp với chính sách của Ngân hàng Nhà Nước.2 Hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản 1.1 Khái niệm hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản: Có nhiều cách định nghĩa về hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản: “Quản trị rủi ro thanh khoản là việc quản lý có hiệu quả cấu trúc tính thanh khoản (tính lỏng) của tài sản và quản lý tốt cấu trúc danh mục của nguồn vốn” (Trần Huy Hoàng, 2011, trang 233) “Quản trị rủi ro thanh khoản là quá trình nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài trợ những nguy cơ rủi ro về việc ngân hàng không thể đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nhu cầu thanh toán cho khách hàng” (Nguyễn Thị Mùi, 2008, trang 326”). Như vây, quản trị rủi ro thanh khoản là việc quản trị có hiệu quả tính thanh khoản của tài sản và nguồn vốn thông qua việc nhận dạng, đo lường, kiểm soát và tài trợ rủi ro thanh khoản.2 Sự cần thiết của việc quản trị rủi ro thanh khoản Công tác quản trị rủi ro thanh khoản đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng bởi: Rủi ro thanh khoản xảy ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng: Ngân hàng phải huy động nguồn vốn với lãi suất khá cao, bán các tài sản với giá thấp để đáp ứng nhu cầu thanh khoản.
Từ đó, làm tăng chi phí, giảm thu nhập, giảm khả năng sinh lời của Ngân hàng. Nếu tình trạng thiếu thanh khoản kéo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 dài có thể làm mất uy tín của Ngân hàng trên thị trường, việc huy động vốn của ngân hàng sẽ càng gặp nhiều khó khăn. Mức độ nghiêm trọng hơn là xảy ra hiệu ứng dây chuyền, khách hàng rút tiền hàng loạt, đẩy ngân hàng vào tình trạng mất khả năng thanh toán và ngân hàng phải đối mặt với khả năng phá sản, bị sáp nhập, mua lại. Hơn nữa rủi ro thanh khoản có tính hệ thống: Việc một ngân hàng mất khả năng thanh khoản nghiêm trọng dẫn đến mất khả năng thanh toán có thể ảnh hưởng đến tâm lý của người gửi tiền ở những ngân hàng khác, dẫn đến tình trạng rút tiền hàng loạt, đe dọa tính ổn định của hệ thống ngân hàng.
Việc quản trị rủi ro thanh khoản tốt sẽ giúp giảm thiểu rủi ro thanh khoản có thể xảy ra. Thông qua quá trình nhận dạng, đo lường rủi ro thanh khoản, ngân hàng tiến hành đề ra các chiến lược kinh doanh, các quyết định kinh doanh phù hợp: vừa đảm bảo đạt hiệu quả kinh doanh vừa phòng ngừa, kiểm soát, hạn chế tối thiểu rủi ro cho ngân hàng.3 Nguyên tắc hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản Để đảm bảo quản trị thanh khoản hiệu quả, một số nguyên tắc mang tính chỉ đạo sau đây cần được tôn trọng: Thứ nhất: Nhà quản trị thanh khoản phải thường xuyên bám sát hoạt động của các bộ phận chịu trách nhiệm huy động vốn và sử dụng vốn trong phạm vi ngân hàng và điều phối hoạt động của các bộ phận này sao ăn khớp với nhau. Ví dụ bất cứ khi nào, bộ phận phụ trách tài khoản tiết kiệm dự kiến nhận một số chứng chỉ tiền gửi có giá trị lớn trong một vài ngày tới, thông tin này cần được chuyển ngay tới người quản trị thanh khoản hoặc bộ phận cho vay cấp hạn mức tín dụng mới cho khách hàng, nhà quản trị thanh khoản cần chuẩn bị khả năng khách hàng rút tiền từ hạn mức đó.