MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Sản lượng nông nghiệp của ĐBSCL chiếm khoảng trên 50%, lương thực xuất khẩu trên 90%, cây ăn trái và thủy sản khoảng trên 70% của cả nước. Nhưng 10 năm trở lại đây vùng châu thổ này đối mặt với hiện tượng thời tiết cực đoan xâm nhập mặn không theo quy luật. Trong khi đó vùng bán đảo Cà Mau lại không có công trình kiểm soát nguồn nước điều này đã khiến cho sản xuất người dân ngày càng bấp bênh. - Vùng sản xuất theo hệ sinh thái ngọt là chủ đạo ( Vùng Tây Sông Hậu ) thường bị nhiễm mặn ( tần suất 50% bất thường) và thiếu ngọt.
- Vùng sản xuất theo hệ sinh thái mặn ( chuyên tôm) có những thời điểm độ mặn quá cao gây thiệt hại về năng suất chất lượng thủy sản, nên người dân đã khai thác nước ngầm pha loãng làm cho tình trạnh lún sụt đất gia tăng trên toàn đồng bằng. - Vùng sinh thái mặn – ngọt luân phiên ( tôm - lúa ) chất lượng nguồn nước biến động nhanh và mạnh khi cần nước ngọt cho lúa thì lại bị mặn, khi cần nước mặn thích hợp nuôi tôm thì độ mặn có khi lại quá cao nên sản xuất khó thích nghi, nên một số vùng dân bỏ đi vụ lúa dẫn đến suy thoái đất nước. Mùa khô năm 2015 – 2016 hạn hán và xâm nhập mặn kỷ lục trong vòng 100 năm mới xuất hiện, 635.000 ha đất sản xuất bị ảnh hưởng, 390.000 hộ dân thiếu nước ngọt, tổng thiệt hại ước tính 7. Để vùng ĐBSCL phát triển ổn định và bền vững, thì việc xây dựng các công trình giúp chủ động tạo nguồn nước để đáp ứng được các yêu cầu trong sản xuất đóng vai trò rất quan trọng.
Bên cạnh việc xây dựng các hồ chứa trữ nước, thì việc triển khai các dự án xây dựng các công trình ngăn sông đặc biệt là ngăn sông vùng ven biển trở thành một nhu cầu, đòi hỏi cấp bách của thực tế sản xuất. Xây dựng các công trình ngăn sông điều tiết vừa đảm bảo ngăn mặn, ngăn nước biển dâng, vừa đảm bảo tạo nguồn nước ngọt nhưng không được làm xấu đi vấn đề thoát lũ qua công trình có một ý nghĩa chiến lược rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội [1]. 1 Trên cơ sở đấy, tháng 9 năm 2017 tại thành phố Cần Thơ chính phủ đã tổ chức hội nghị “ Phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu”. Tại hội nghị này Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã yêu cầu “Từ nay đến năm 2020 giải ngân có hiệu quả ít nhất 1 tỷ đô la mỹ để làm mấy việc sau: Làm hệ thống cống điều tiết cống sông Cái Lớn, sông Cái Bé của tỉnh Kiên Giang để ngăn mặn; cống Trà Sư, Tha La ở An Giang để điều tiết lũ”.
Ngày 25/12/2018 Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã phê duyệt dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé giai đoạn 1 với nhiệm vụ : - Kiểm soát nguồn nước (mặn, lợ, ngọt), tạo điều kiện sản xuất ổn định, bền vững đối với các mô hình sản xuất theo hệ sinh thái (ngọt, mặn – lợ, ngọt – lợ luân phiên) cho vùng hưởng lợi với diện tích tự nhiên 384.120ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp, thủy sản là 346.241ha; - Kết hợp tuyến đê biển Tây tạo thành cụm công trình chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, phòng, chống thiên tai, giảm ngập úng khi mặt đất hạ thấp (do lún sụt đất); Giảm thiệt hại do thiên tai (hạn, mặn) vào mùa khô cho các mô hình sản xuất trong vùng; - Góp phần cấp nước ngọt trong mùa mưa cho vùng sản xuất mặn, ngọt huyện An Minh, An Biên với những năm mưa ít; và tiêu thoát cho vùng hưởng lợi của dự án trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng; - Kết hợp phát triển cơ sở hạ tầng giao thông bộ, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực. Công trình cống Cái Lớn thuộc dự án Hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé giai đoạn 1 với có khẩu diện 455 m gồm 11 khoang mỗi khoang rộng 40m và 1 khoang âu thuyền rộng 15m dài 156m. Kết cấu cống sử dụng công nghệ Đập trụ đỡ, được thi công theo công nghệ khung vây cọc ván thép bao quanh vị trí trụ, dầm van và âu thuyền. Thi công kết cấu bằng phương pháp hút khô nước bên trong khung vây để thi công trụ móng và các kết cấu còn lại.
2 Công trình cống Cái Lớn do trung tâm công trình đồng bằng ven biển và đê điều thiết kế theo công nghệ đập trụ đỡ. Đây công trình đập trụ đỡ lớn nhất vùng ĐBSCL tuy nhiên trong quá trình triển khai dự án còn có một vài hạn chế trong việc quản lý chất lượng thiết kế. Vì vậy, việc rút ra các bài học kinh nghiệm và hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thiết kế đập trụ đỡ tại trung tâm công trình Đồng bằng ven biển và đê điều là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao. Xuất phát từ thực tế trên, học viên chọn đề tài luận văn thạc sĩ là “ Hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thiết kế đập trụ đỡ tại Trung tâm công trình Đồng bằng ven biển và đê điều”.2 Mục đích của đề tài Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thiết kế công trình ngăn sông bằng công nghệ đập trụ đỡ tại Trung tâm công trình Đồng bằng ven biển và đê điều.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu • Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về công tác quản lý chất lượng thiết kế các công trình ngăn sông bằng công nghệ đập trụ đỡ.
• Phạm vi nghiên cứu: Công tác quản lý chất lượng thiết kế công trình ngăn sông theo công nghệ đập trụ đỡ tại Trung tâm công trình Đồng bằng ven biển và Đê điều.4 Phương pháp nghiên cứu • Phương pháp lý thuyết • Phương pháp thống kê, tổng hợp • Phương pháp chuyên gia 1.5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: 1.1 Cách tiếp cận Tiếp cận bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức, cá nhân khoa học hay các phương tiện thông tin đại chúng; qua các kết quả nghiên cứu công trình ngăn sông trên thế giới cũng như trong nước đã có kết hợp tìm hiểu, thu thập và phân tích đánh giá 3 các tài liệu có liên quan, từ đó đề ra phương án cụ thể phù hợp với tình hình điều kiện cụ thể của nước ta .2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn • Ý nghĩa khoa học: Góp phần hệ thống hoá và cập nhật những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý chất lượng thiết kế công trình ngăn sông bằng công nghệ đập trụ đỡ trong giai đoạn hiện nay. • Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo và có thể áp dụng trong công tác quản lý chất lượng thiết kế công trình ngăn sông bằng công nghệ đập trụ đỡ tại Trung tâm công trình Đồng bằng ven biển và Đê điều.3 Kết quả dự kiến đạt được • Đánh giá thực trạng về công tác quản lý chất lượng thiết kế công trình ngăn sông bằng công nghệ đập trụ đỡ tại Trung tâm công trình Đồng bằng ven biển và Đê điều. • Nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng thiết kế công trình ngăn sông bằng công nghệ đập trụ đỡ tại Trung tâm công trình Đồng bằng ven biển và Đê điều. 4 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ CÔNG TRÌNH NGĂN SÔNG 1.1 Khái quát chung về công tác quản lý chất lượng thiết kế Luật thủy lợi số 08/2017/QH14 [2] có định nghĩa về công trình thủy lợi như sau : “ Công trình thủy lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, bờ bao thủy lợi và các công trình khác phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi”.
Như vậy ta có thể hiểu công trình thủy lợi bao gồm các công trình đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, trạm bơm, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác. Theo thống kê hiện nay các công trình thủy lợi đang được khai thác gồm có: 5565 hồ chứa; 8512 đập dâng; 5194 trạm bơm điện, cống tiêu tưới các loại; 10698 các loại công trình khác và 23000 bờ bao ngăn lũ đầu vụ hè thu ở vùng ĐBSCL cùng hàng vạn km kênh mương và công trình trên kênh [3]. Tại điều 2 khoản 16 Luật thủy lợi số 08/2017/QH14 [2] đã phân loại công trình thủy lợi thành các lại như sau: • Đập, hồ chứa nước quan trọng đặc biệt là đập có chiều cao từ 100 m trở lên; hồ chứa nước và đập của hồ chứa nước có dung tích toàn bộ từ 1.000 m3 trở lên hoặc hồ chứa nước và đập của hồ chứa nước có dung tích 500.000 m3 mà vùng hạ du ảnh hưởng là thành phố , thị xã hoặc công trình liên quan đến an ninh quốc gia. • Đập, hồ chứa nước lớn là đập có chiều cao từ 15 m đến 100 m; đập có chiều cao từ 10 m đến 15 m và chiều dài đập từ 500m trở lên hoặc có lưu lượng tràn xả lũ thiết kế trên 2000m3/s; hồ chứa nước và đập của hồ chứa nước có dung tích toàn bộ từ 3.000 m3 trừ những hồ mà vùng hạ du ảnh hưởng đến thành phố, thị xã, công trình liên quan an ninh quốc gia.
• Đập, hồ chứa vừa được quy định là đập có chiều cao từ 10 đến dưới 15m hoặc hồ chứa nước và đập của hồ chứa nước có dung tích toàn bộ từ 500. • Đập, hồ chứa nước nhỏ là đập có chiều cao dưới 10m hoặc hồ chứa nước có dung tích toàn bộ dưới 500m3. 5 • Trạm bơm được chia ra thành các loại: trạm bơm lớn là các trạm bơm có tổng lưu lượng từ 72.000 m3/h trở lên; trạm bơm vừa là các trạm bơm có tổng lượng từ 3.000 m3/h hoặc trạm bơm nhỏ nhưng có công suất mỗi tổ máy từ 150 kW trở lên; trạm bơm nhỏ là trạm bơm có tổng lưu lượng dưới 3.