MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài An toàn lao động (ATLĐ) trong xây dựng là chỉ việc ngăn ngừa sự cố tai nạn xảy ra trong quá trình lao động xây dựng trên công trường, gây thương tích đối với cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động. Công tác quản lý ATLĐ không tốt thì gây ra tai nạn lao động. ATLĐ trong xây dựng là một trong những công việc bắt buộc trong quá trình thi công xây dựng công trình xây dựng. Dưới góc độ pháp lý, ATLĐ là những quy phạm pháp luật quy định các biện pháp bảo đảm ATLĐ nhằm ngăn ngừa tai nạn lao động và cải thiện điều kiện lao động cho người lao động.
Xuất phát từ tầm quan trọng này mà Quốc hội, Nhà nước và Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp luật quy định nghiêm ngặt chế độ bảo hộ lao động từ khâu ban hành văn bản pháp luật đến tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm. Ngoài ra, để thực hiện tốt các giải pháp an toàn không chỉ đơn giản là đưa ra các luật định và nêu cao khẩu hiệu, mà việc quan trọng hơn hết là phải được phân tích, tính toán trên cơ sở khoa học nhằm đề xuất các biện pháp an toàn một cách hợp lý, chính xác. Nhìn nhận được tầm quan trọng của công tác an toàn xây dựng, mà đặc biệt là công tác quản lý an toàn xây dựng, Quốc hội đã ban hành luật số 10/2012/QH13 Bộ luật lao động và Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn một số mội dung thi hành bộ luật lao động, đồng thời các bộ ngành cũng ban hành một số thông tư hướng dẫn liên quan theo sơ đồ sau: Hiến pháp Các Bộ luật liên quan (Luật Công đoàn 12/2012/QH13; Luật BHXH 58/2014/QH13; Luật BHYT…. Bộ luật LĐ Các Nghị định của Chính phủ liên NĐ15/2015/NĐ-CP quan (NĐ 11/2012; NĐ 05/2015; NĐ119/2014…) Các thông tư Các chỉ thị Hệ thống quy chuẩn; TCVN; TCN 1 Ngày nay, việc mất ATLĐ trên các công trường xây dựng là vấn nạn nhức nhối trong xã hội.
Mặc dù được các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị tư vấn giám sát, nhà thầu xây dựng quan tâm chú trọng.nhưng nhìn chung công tác quản lý an toàn xây dựng trên nhiều công trường còn chưa mang lại kết quả hoặc đạt hiệu quả không cao. Một số công trường còn để xảy ra tai nạn lao động gây thương tất cho người lao động hoặc chết người tạo dự luận xấu và gây bất bình trong xã hội.Theo báo cáo của 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, năm 2015 trên toàn quốc đã xảy ra 7.620 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) làm 7.785 người bị nạn, trong đó: Số vụ TNLĐ chết người: 629 vụ; Số vụ TNLĐ có hai người bị nạn trở lên: 79 vụ; Số người chết: 666 người; Số người bị thương nặng: 1. [1] Điều này cho thấy rằng công tác quản lý ATLĐ trong xây dựng còn nhiều lỏng lẻo, chưa thực sự hiệu quả. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá thực trạng về công tác quản lý ATLĐ trên các công trường xây dựng ở nước ta hiện nay.
Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý ATLĐ trong xây dựng, áp dụng cho công trình Trụ sở Cơ quan Tỉnh ủy Quảng Bình. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp ATLĐ cho công trình Trụ sở Cơ quan Tỉnh ủy Quảng Bình. Dự án Trụ sở Cơ quan Tỉnh ủy Quảng Bình được đầu tư xây dựng trên khu đất 30.000m2 có quy mồ đầu tư xây dựng gồm 07 tầng với 18.680m2 sàn và các hạng mục khác, với tổng mức đầu tư 378 tỷ đồng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước. Với phần kiến trúc: - Mặt bằng: Mặt bằng công trình được thiết kế theo khu chức năng và theo tầng làm việc.
Khối giữa được bố trí làm nơi làm việc của thường trực Tỉnh ủy và các phòng làm việc của khối Văn phòng. Hai khối hai bên được bố trí làm nơi làm việc của các Ban. Tầng trệt được bố trí làm nơi để xe và các không gian phụ trợ, từ tầng 2 lên đến tầng 6 là không gian làm việc. 2 - Mặt đứng: Mặt đứng công trình được phân chia thành 3 phần: Chân đế, thân và mái.
Các mảng tường đặc kết hợp với ô kính lớn tạo ra các mảng đặc rỗng đan xen, hình khối vuông vắn, bố cục đối xứng. Mặt đứng bên ngoài đơn giản, hình thức kiến trúc hiện đại. [2] Phạm vi nghiên cứu: Đảm bảo công tác quản lý an toàn lao động và VSATLĐ trong quá trình thi công cho một số hạng mục, bộ phận kết cấu chính của công trình. Trên cơ sở hệ thống pháp luật về quản lý an toàn xây dựng tại Việt Nam đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá hiệu quả một số các mô hình quản lý an toàn xây dựng đã có, từ đó đề xuất mô hình quản lý an toàn xây dựng hợp lý cho công trình Trụ sở Cơ quan Tỉnh ủy Quảng Bình.
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu * Cách tiếp cận Đối tượng tiếp cận của đề tài là công tác ATLĐ trong xây dựng. Đây là lĩnh vực có đặc thù riêng và có một phạm vi rộng. Vì vậy, hướng tiếp cận của đề tài sẽ là: * Tiếp cận từ tổng thể chi tiết (tiếp cận hệ thống) Tiếp cận các kết quả đã nghiên cứu về công tác quản lý ATLĐ trong xây dựng trong nước cũng như ngoài nước, cập nhật các văn bản pháp luật hiện hành. * Tiếp cận toàn diện, đa lĩnh vực Xem xét đầy đủ các yếu tố phát triển khi nghiên cứu đề tài bao gồm các lĩnh vực kinh tế xã hội, con người …; * Phương pháp nghiên cứu Thu thập, phân tích các tài liệu liên quan: các tài liệu về công tác quản lý ATLĐ của ít nhất 3 công trường xây dựng hiện nay; Phương pháp chuyên gia: trao đổi với thầy hướng dẫn và các chuyên gia có kinh nghiệm nhằm đánh giá và đưa ra giải pháp phù hợp nhất.
Kết quả đạt được Thực trạng công tác quản lý ATLĐ trong xây dựng tại Việt Nam. Các giải pháp chung nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý ATLĐ trong xây dựng. Mô hình quản lý ATLĐ cho công trình Trụ sở Cơ quan Tỉnh ủy Quảng Bình. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 1.1 Tổng quan về Quản lý dự án xây dựng công trình 1.1 Khái niệm về dự án và quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Dự án đầu tư xây dựng công trình là những dự án đầu tư cho việc xây dựng, mua sắm thiết bị công nghệ, đào tạo công nhân vận hành nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc dịch vụ cho xã hội; hoặc là các dự án đầu tư xây dựng công trình tạo ra các hệ thống cơ sở vật chất cho xã hội như cầu, cống, đường bộ, đường sắt; cảng sông, cảng biển, đê, đập, hồ chứa nước, kênh mương tưới tiêu… Như vậy dự án đầu tư xây dựng công trình được hiểu là những dự án trong đó có các công trình như nhà xưởng, thiết bị… gắn liền với đất được xây dựng trên một địa điểm cụ thể (nhằm phân biệt với các dự án đầu tư không có xây dựng công trình hoặc chỉ có thiết bị không gắn liền với đất như dự án mua sắm ô tô, máy bay, tàu thủy… (không có xây dựng, lắp đặt thiết bị…) Theo Luật số: 50/2014/QH13 Luật Xây dựng Việt Nam ngày 18 tháng 6 năm 2014thì dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.
Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình. Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, 5 được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, năng lượng và các công trình khác.
Quản lý dự án là việc lập kế hoạch, tổ chức, điều phối, chỉ đạo và quản lý, giám sát quá trình phát triển của dự án đối với các giai đoạn nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời gian, trong phạm vi ngân sách đã được duyệt, đảm bảo chất lượng công trình, đạt mục tiêu cụ thể của dự án và các mục đích đề ra. Mỗi một dự án xây dựng đều có một đặc điểm riêng tạo nên sự phong phú đa dạng trong công tác quản lý dự án. Tuy nhiên mục tiêu cơ bản của việc quản lý dự án thể hiện ở chổ các công việc phải hoàn thành theo yêu cầu và bảo đảm chất lượng, trong phạm vi chi phí được phê duyệt, đúng tiến độ đề ra và giử cho phạm vi dự án không thay đổi.2 Các nội dung về dự án Công tác QLDA bao gồm các nội dung sau: - Quản lý tổng thể dự án; - Quản lý chi phí và nguồn lực dự án; - Quản lý thời gian và tiến độ dự án; - Quản lý đấu thầu và hợp đồng; - Quản lý thi công xây lắp; - Quản lý chất lượng, - Quản lý khối lượng dự án; - Quản lý rửi ro, ATLĐ, môi trường xây dựng dự án; - Quản lý thanh, quyết toán vốn đầu tư; - Quản lý vận hành dự án; - Quản lý hồ sơ thông tin dự án.