CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: 1.1 Lý luận về kiểm soát nội bộ theo báo cáo Coso: 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của báo cáo Coso: Năm 1977, sau vụ bê bối Watergate, quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Luật hành vi hôi lộ ở nước ngoài. Điều luật này nhấn mạnh việc KSNB nhằm ngăn ngừa những khoản thanh toán bất hợp pháp và dẫn đến việc yêu cầu ghi chép rất đầy đủ trong mọi hoạt động. Lần đầu tiên, hoạt động KSNB trong các tổ chức được đề cập đến trong một văn bản pháp luật. Tiếp sau đó AICPA thành lập một Ủy ban đặc biệt về kiểm soát nội bộ (1979); Ủy ban quản lý chứng khoán Mỹ (SEC) đưa ra quy định bắt buộc các giám đốc phải đưa ra báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở doanh nghiệp(1979); AICPA ban hành chuẩn mực kiểm toán số 30 (1980); Hội kiểm toán viên nội bộ ban hành chuẩn mực số 1 (1983); AICPA ban hành hướng dẫn bổ sung về tác động của việc xử lý bằng máy tính đến kiểmsoát nội bộ…Những quy định này một mặt làm phong phú khái niệm KSNB nhưng mặt khác dẫn đến yêu cầu phải hình thành một hệ thông lý luận có tính chuẩn mực về KSNB.
COSO (The Committee of sponsoring Organizations of Treadway Commission) là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc phòng chống gian lận trên báo cáo tài chính ,thường gọi là Ủy ban Treadway được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức nghề nghiệp: -Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ(AICPA) -Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ(AAA_American Accounting Assocciation) -Hiệp hội Quản trị viên tài chính(FEI_Financial Executives Institute) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 -Hiệp hội Kế toán viên quản trị(IMA_Institute of Managenment Accountans) -Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ(IIA-Institute of Internak Auditors) Báo cáo COSO 1992 tuy chưa thực sự hoàn chỉnh và còn nhiều hạn chế nhưng đã tạo lập được cơ sở lý thuyết rất cơ bản về KSNB. Cấu trúc của COSO 1992 gồm 4 phần: phần 1: tóm tắt dành cho người điều hành , phần 2: khuôn mẫu của KSNB , phần 3: báo cáo cho các đối tượng bên ngoài, phần 4: công cụ đánh giá hệ thống KSNB. Từ khi COSO 1992 được công bố Ủy ban Treadway đã không ngừng đổi mới và khắc phục nhược điểm. Năm 2001 Ủy ban Treadway triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp và chính thức được ban hành vào năm 2004.
COSO 2004 là phát triển của COSO 1992 chứ không nhằm thay thế COSO 1992. COSO 2004 mở rộng thêm 3 bộ phận là: Thiết lập các mục tiêu, nhận dạng sự kiện tiềm tàng và phản ứng vơi rủi ro. COSO 2004 đã mang lại nhiều lợi ích về mặt quản trị rủi ro doanh nghiệp nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết và chuẩn hóa các nguyên tắc để phù hợp hơn với môi trường kinh doanh đang thay đổi nhanh chóng và ngày càng khắt khe thì tháng 11 năm 2011 thì Ủy ban Treadway đã lấy ý kiến lần thứ nhất của công chúng về dự thảo COSO 2013, lấy ý kiến lần thứ 2 vào tháng 9 năm 2012 chính thức phát hành vào tháng 5 năm 2013.
COSO 2013 tổng kết những thay đổi trong hoạt động và môi trường kinh doanh trong vòng 20 năm thực hiện COSO 1992. Nếu như COSO 1992 nhằm mục đích thống nhất định nghĩa về kiểm soát nội bộ và xây dựng một tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của họ và tìm giải pháp để hoàn thiện thì COSO 2013 hướng dẫn về quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ và biện pháp để giảm thiểu gian lận từ đó giúp cải thiện hiệu quả hoạt động cũng như tăng cường sự giám sát của tổ chức.COSO 2013 giữ lại định nghĩa của kiểm soát nội bộ và 5 thành phần của kiểm soát nội bộ. Sự thay đổi được thực hiện trong COSO 2013 chính là sự hệ thống hóa 17 nguyên tắc để hỗ trợ cho 5 thành phần, 17 nguyên tắc chính là những khái niệm cơ bản ẩn chứa trong COSO 1992. Để kiểm soát nội bộ một cách hiệu quả, COSO 2013 yêu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 cầu: - Mỗi thành phần trong số 5 thành phần và 17 nguyên tắc có liên quan phải được trình bày và thực hiện.
- Năm thành phần phải được vận hành cùng nhau trong một cơ chế tổng hợp. Nghiên cứu sâu hơn vào lĩnh vực ngân hàng là báo cáo Basel. Báo cáo được ban hành bởi Ủy ban Basel, Ủy ban nghiên cứu và đưa ra các chuẩn mực vốn quốc tế và các phương pháp đo lường vốn, quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, các nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hàng và được ban hành lần đầu vào năm 1998 gọi là Basel I. Qua quá trình áp dụng Basel I đã bộc lộ một số hạn chế nên Ủy ban Basel đã cho ra đời hiệp ước Basel II vào năm 2001.2 Kiểm soát nội bộ theo báo cáo COSO năm 1992 1.1Định nghĩa kiểm soát nội bộ: Theo Báo cáo của coso năm 1992, KSNB là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây: - Báo cáo tài chính đáng tin cậy.
- Các luật lệ và quy định được tuân thủ. - Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả Trong định nghĩa trên, bốn nội dung cơ bản là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. Chúng được hiểu như sau: ■ Kiểm soát nội bộ là một quá trình: Kiểm soát nội bộ không chỉ là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà nó bao gồm một chuỗi các hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Quá trình kiểm soát là phương tiện để giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu của mình.
■ Kiểm soát nội bộ bị chi phối bới con người: Kiểm soát nội bộ tác động TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 đến hành vi của con người (HĐQT, ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên), là công cụ được nhà quản lý sử dụng chứ không thay nhà quản lý. KSNB sẽ tạo ra ý thức ở mỗi cá nhân và hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức. ■ Kiểm soát nội bộ cung cấp một đảm bảo hợp lý: Kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không đảm bảo tuyệt đối trong việc đạt được các mục tiêu chung của tổ chức. Nguyên nhân bởi luôn có khả năng tồn tại những yếu kém xuất phát từ sai lầm của con người khi vận hành hệ thống kiểm soát dẫn đến việc không thực hiện được mục tiêu.
Kiểm soát nội bộ có thể làm ngăn chặn và phát hiện và phát hiện sai phạm nhưng không thể đảm bảo chắc chắn sẽ không xảy ra sai phạm nữa. Bên cạnh đó quyết định của kiểm soát nội bộ còn tùy thuộc vào nguyên tắc cơ bản: sự đánh đổi lợi ích chi phí, chi phí kiểm soát không được vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát.2Các bộ phận hợp thành của hệ thống kiểm soát nội bộ: Theo coso 1992, hệ thống kiểm soát nội bộ trong một đơn vị được cấu thành bởi năm bộ phận. Đó là: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng của các bộ phận khác của kiểm soát nội bộ.
Các nhân tố thuộc về môi trường kiểm soát là: - Tính chính trực và các giá trị đạo đức: sự hữu hiệu của hệ thông kiểm soát nội bộ phụ thuộc trực tiếp vào tính chính trực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức của những người liên quan đến quá trình kiểm soát. Đơn vị phải xây dựng được các chuẩn mực, quy định về đạo đức cho các nhân viên và những nhà quản lý phải làm gương trong việc thực hiện các quy định đó. - Đảm bảo về năng lực: đơn vị phải đảm bảo cho nhân viên có được những hiểu biết và kỹ năng cần thiết để thực hiện những công việc được giao. Nếu không, chắc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 chắn họ sẽ thực hiện nhiệm vụ được giao không hữu hiệu và hiệu quả.
- Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát: thông qua các hoạt động giám giát của mình (sự tuân thủ pháp luật, lập báo cáo tài chính, giữ sự độc lập của kiểm toán nội bộ,.) các bộ phận này có những tác động quan trọng cho việc thực hiện các mục tiêu của đơn vị. - Triết lý và phong cách điều hành của nhà quản lý: các đặc điểm cá nhân của những người quản lý, đặc biệt là người quản lý cấp cao khi điều hành đơn vị sẽ tạo nên những rủi ro khác nhau cho đơn vị. - Cơ cấu tổ chức: sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa các bộ phận trong đơn vị sẽ tác động đến việc thực hiện các mục tiêu. Cơ cấu phù hợp sẽ là cơ sở cho việc lập kế hoạch, điều hành, kiểm soát và giám sát các hoạt động.
- Cách thức phân chia quyền hạn và trách nhiệm: việc phân chia trách nhiệm và quyền hạn cụ thể của từng thành viên trong các hoạt động của đơn vị giúp cho mỗi thành viên hiểu rằng họ có nhiệm vụ cụ thể gì và từng hoạt động của họ ảnh hưởng đến người khác như thế nào trong việc thực hiện các mục tiêu. - Chính sách nhân sự: các chính sách và thủ tục của đơn vị về việc tuyển dụng, huấn luyện, bổ nhiệm, đánh giá, sa thải, đề bạt,., ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của môi trường kiểm soát thông qua tác động đến các nhân tố khác trong môi trường kiểm soát như đảm bảo về năng lực, tính chính trực và các giá trị đạo đức,. Môi trường kiểm soát có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình thực hiện và kết quả của các thủ tục kiểm soát. Các thủ tục kiểm soát có thể không đạt được mục tiêu hoặc chỉ còn là hình thức trong môi trường kiểm soát yếu kém.
Ngược lại, một môi trường kiểm soát tốt có thể hạn chế phần nào sự thiếu sót của các thủ tục kiểm soát.