Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống tài chính Việt Nam, tín dụng ngân hàng giữ vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo khi cung cấp tới 70% nhu cầu vốn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Hoạt động cấp tín dụng luôn tiềm ẩn rủi ro nợ xấu. Nợ xấu gây tắc nghẽn dòng vốn luân chuyển, đe dọa sự an toàn của các tổ chức tín dụng và kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Từ năm 1999, khung pháp lý về mua bán nợ tại Việt Nam được định hình ban đầu thông qua Quyết định số 140/1999/QĐ-NHNN14 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Trải qua hơn hai thập kỷ phát triển, hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh nợ xấu đã liên tục được bổ sung và sửa đổi. Tuy nhiên, quá trình thực thi vẫn bộc lộ nhiều lúng túng, bất cập và chưa tạo lập được một thị trường mua bán nợ xấu vận hành theo đúng nghĩa thị trường. Áp lực nợ xấu gia tăng sau đại dịch Covid-19 đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khung pháp lý để khơi thông nguồn lực tài chính. Do đó, tác giả Vũ Minh Hường đã lựa chọn thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Luật Kinh tế với đề tài "Hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy phát triển thị trường mua bán nợ xấu ở Việt Nam hiện nay" dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Ngọc Thắng tại Khoa Luật, Học viện Ngân hàng.

Khóa luận xác định 03 nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Cung cấp và làm sáng tỏ những tri thức mang tính định hình về thị trường mua bán nợ xấu và khung pháp lý điều chỉnh thị trường này thông qua phân tích, hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan.
  2. Nghiên cứu, phân tích chi tiết thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng; xác định những ưu điểm, hạn chế và bất cập nảy sinh trong quá trình thi hành.
  3. Đề xuất phương hướng và hệ thống các giải pháp cụ thể, khả thi nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trên thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng các quy định và thực tiễn thực thi pháp luật Việt Nam hiện hành về thị trường mua bán nợ xấu.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai nhóm quy định trọng tâm là nhóm quy định về đối tượng mua bán (hàng hóa nợ xấu) và nhóm quy định về chủ thể mua bán nợ xấu, mở rộng trên cả thị trường mua bán nợ sơ cấp và thứ cấp.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu hệ thống pháp luật thực định tại Việt Nam, sử dụng số liệu thực tiễn và minh chứng giai đoạn 2013 – 2021, kết hợp đối chiếu với các quy định pháp luật quốc tế và các văn bản pháp luật đã hết hiệu lực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu trên nền tảng kết hợp giữa khoa học pháp lý và kinh tế học:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:
    • Nợ xấu: Tiếp cận định nghĩa theo tiêu chuẩn quốc tế của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB, 2001 - định tính dựa trên khả năng trả nợ), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2004 - kết hợp định lượng quá hạn từ 90 ngày trở lên và định tính mất khả năng chi trả), Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel (BCBS, 2002); đồng thời phân tích bản chất pháp lý của nợ xấu theo Bộ luật Dân sự và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 là sự tổng hòa giữa quyền đòi nợ (quyền tài sản của tổ chức tín dụng) và nghĩa vụ trả nợ (của khách hàng vay).
    • Khung pháp lý về thị trường mua bán nợ xấu: Tiếp cận theo nghĩa hẹp, được định nghĩa là hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hành do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động mua bán nợ xấu trên thị trường.
  • Hệ thống văn bản pháp luật tham chiếu: Bộ luật Dân sự, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, Quyết định 140/1999/QĐ-NHNN14 cùng các thông tư, nghị định hướng dẫn liên quan.
  • Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp luật chuyên ngành:
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật;
    • Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết;
    • Phương pháp quy nạp và diễn giải;
    • Phương pháp lịch sử và logic;
    • Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với quốc tế và thực tiễn qua các thời kỳ).
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu pháp lý từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam; dữ liệu thống kê chính thức từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Thống kê, Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC), Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) cùng các công trình nghiên cứu của các học giả (Nguyễn Thị Tú, Đỗ Thị Xuân Phương, Nguyễn Thu Hương, Khúc Thị Phương Dung, Hoàng Văn Thành).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thị trường mua bán nợ xấu và khung pháp lý về thị trường mua bán nợ xấu

Chương 1 xây dựng hệ thống cơ sở lý luận toàn diện về nợ xấu, cơ chế vận hành thị trường và khung pháp lý điều chỉnh:

  • Lý luận về nợ xấu: Phân tích bản chất nợ xấu phát sinh chủ yếu từ nghiệp vụ cho vay của tổ chức tín dụng (chiếm 64,6% nguồn cung vốn năm 2017 và 63,6% năm 2018). Tác giả phân loại 5 biện pháp xử lý nợ xấu hiện hành: cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xử lý tài sản bảo đảm, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro, bán nợ xấu, và khởi kiện ra Tòa án. Trong đó, bán nợ xấu được xác định là phương thức xử lý dứt điểm rủi ro, chuyển giao nhanh chóng quyền tài sản sang chủ nợ mới.
  • Cấu trúc thị trường mua bán nợ xấu: Phân định rõ thị trường sơ cấp (nơi tổ chức tín dụng bán khoản nợ xấu lần đầu) và thị trường thứ cấp (nơi mua bán lại các khoản nợ xấu giữa các nhà đầu tư). Thị trường gồm 04 nhóm chủ thể: chủ thể bán nợ, chủ thể mua nợ (VAMC, DATC, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản - AMC, nhà đầu tư), chủ thể trung gian hỗ trợ (định giá, tư vấn, sàn giao dịch), và chủ thể quản lý giám sát (Ngân hàng Nhà nước chủ trì, phối hợp liên bộ, ngành). Hai phương thức giao dịch chủ yếu được luật định gồm thỏa thuận và đấu giá.
  • Vai trò kinh tế - xã hội của thị trường: Thị trường mua bán nợ xấu tạo cơ chế xử lý nợ nhanh chóng, mở ra kênh đầu tư sinh lời cho xã hội, hỗ trợ quá trình cổ phần hóa và tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (nơi chiếm tới 70% tổng nợ xấu hệ thống theo các đánh giá kinh tế), đồng thời hỗ trợ hoạt động điều tiết vĩ mô của Nhà nước.
  • Đặc điểm hình thành khung pháp lý tại Việt Nam: Tác giả chỉ ra 03 đặc điểm cốt lõi:
    1. Hình thành trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển chưa đầy đủ;
    2. Hình thành khi chưa tồn tại một thị trường mua bán nợ xấu đúng nghĩa (Sàn giao dịch nợ VAMC thành lập vào quý IV/2021 nhưng hoạt động còn sơ khai, giao dịch chủ yếu dựa trên can thiệp hành chính của các công ty mua bán nợ nhà nước);
    3. Hình thành trong quá trình chuyển đổi thể chế, chịu sự đan xen giữa yêu cầu kinh tế thị trường và tư duy mệnh lệnh hành chính của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung cũ.

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam hiện nay

Chương 2 tập trung mổ xẻ thực trạng các quy định pháp luật thực định và đánh giá kết quả thực thi trên thực tế qua các mốc số liệu giai đoạn 2011 – 2020:

  • Thực trạng quy định pháp luật: Phân tích chi tiết quy chế pháp lý về đối tượng giao dịch (điều kiện để khoản nợ xấu trở thành hàng hóa giao dịch, tính hợp pháp của quyền đòi nợ) và tư cách pháp lý của các chủ thể tham gia thị trường (VAMC, DATC, các AMC của tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ và nhà đầu tư cá nhân/tổ chức nước ngoài).
  • Phân tích số liệu và thực tiễn thực thi:
    • Đánh giá diễn biến tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam qua Biểu đồ 2.1 (giai đoạn 2011 – 2013) và Biểu đồ 2.2 (giai đoạn 2015 – 2020).
    • Phân tích cơ cấu thu hồi nợ thông qua Biểu đồ 2.3 về các biện pháp xử lý khoản nợ mua bằng trái phiếu đặc biệt (TPĐB) của VAMC giai đoạn 2013 – 2020.
  • Nhận diện các vướng mắc, bất cập pháp lý:
    • Tính minh bạch của hàng hóa nợ xấu: Thiếu cơ chế công khai thông tin chuẩn hóa và thiếu tổ chức định mức tín nhiệm độc lập cho các khoản nợ.
    • Thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm: Trở ngại trong việc đăng ký thay đổi bên nhận bảo đảm khi chuyển giao quyền đòi nợ kèm tài sản bảo đảm.
    • Áp dụng Điều 6 Nghị quyết 42/2017/QH14: Tồn tại cách hiểu và áp dụng thiếu thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và tổ chức tín dụng về quyền mua bán nợ xấu và chuyển giao tài sản bảo đảm.
    • Năng lực của các định chế mua bán nợ: Nguồn vốn và cơ chế vận hành của VAMC, DATC, AMC trực thuộc các ngân hàng thương mại còn hạn chế; VAMC phụ thuộc chủ yếu vào công cụ trái phiếu đặc biệt thay vì mua bán theo giá trị thị trường.
    • Rào cản thị trường: Quy định điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ còn bất cập đối với các tổ chức, cá nhân thông thường; hạn chế về tỷ lệ sở hữu và thủ tục chuyển nhượng tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp hoàn thiện khung pháp lý thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam hiện nay

Chương 3 đề xuất định hướng xây dựng thị trường mua bán nợ công khai, minh bạch, vận hành theo quy luật thị trường, gắn với 06 nhóm giải pháp pháp lý cụ thể:

  1. Nâng cao tính minh bạch, công khai của hàng hóa nợ xấu: Hoàn thiện quy chế công bố thông tin nợ xấu, xây dựng tiêu chuẩn định giá nợ và thúc đẩy hoạt động định mức tín nhiệm khoản nợ.
  2. Khắc phục quy định về đăng ký thay đổi nội dung biện pháp bảo đảm: Đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định rõ cơ chế tự động chuyển giao quyền bảo đảm khi chuyển giao quyền đòi nợ.
  3. Khắc phục quy định bị hiểu sai tại Điều 6 Nghị quyết số 42/2017/QH14: Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất quyền bán nợ xấu theo giá trị thị trường và thủ tục xử lý tài sản bảo đảm đi kèm.
  4. Nâng cao năng lực hoạt động của AMC, DATC, VAMC: Bổ sung vốn điều lệ, mở rộng thẩm quyền và đẩy mạnh cơ chế mua bán nợ theo giá trị thị trường thay vì phương thức mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt.
  5. Hoàn thiện quy định về tổ chức kinh doanh dịch vụ mua bán nợ và cá nhân, tổ chức không kinh doanh dịch vụ: Rà soát điều kiện kinh doanh để thu hút thành phần kinh tế tư nhân tham gia thị trường thứ cấp.
  6. Thu hút sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài: Nới lỏng các rào cản pháp lý về quyền tiếp cận tài sản bảo đảm gắn liền với đất đai và cơ chế chuyển đổi ngoại tệ khi xử lý nợ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng kết toàn diện thực trạng pháp lý và số liệu thực tế về thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam, đồng thời đưa ra bảng hệ thống hóa các giải pháp pháp lý tương ứng với từng điểm nghẽn thực tiễn:

Nhóm vấn đề / Bất cập pháp lý Nội dung biểu hiện trên thực tiễn Giải pháp hoàn thiện tương ứng của tác giả
Minh bạch hóa hàng hóa nợ Thông tin nợ xấu bị phân tán, thiếu định mức tín nhiệm chuẩn hóa Hoàn thiện quy chế công bố thông tin, tiêu chuẩn hóa định giá và dữ liệu định mức tín nhiệm khoản nợ
Đăng ký biện pháp bảo đảm Thủ tục thay đổi chủ thể nhận bảo đảm phức tạp, kéo dài thời gian chuyển giao Quy định cơ chế tự động kế thừa quyền bảo đảm khi nhận chuyển giao quyền đòi nợ
Áp dụng Điều 6 Nghị quyết 42 Nhận thức sai lệch và áp dụng thiếu đồng bộ về quyền bán nợ theo giá thị trường Ban hành hướng dẫn chi tiết, thống nhất áp dụng pháp luật giữa Tòa án, Thi hành án và TCTD
Năng lực VAMC, DATC, AMC Nguồn lực tài chính hạn chế, xử lý nợ chủ yếu qua trái phiếu đặc biệt Tăng vốn điều lệ, chuyển mạnh sang cơ chế mua bán dứt điểm theo giá thị trường
Chủ thể tư nhân và FII Điều kiện gia nhập thị trường khắt khe, rào cản sở hữu tài sản bảo đảm với nhà đầu tư ngoại Mở rộng quyền tham gia cho khối tư nhân; gỡ vướng quyền nhận tài sản bảo đảm bất động sản cho nhà đầu tư ngoại

Đóng góp của khóa luận:

  • Hệ thống hóa khung lý luận về thị trường mua bán nợ xấu dưới góc độ luật học, khẳng định rõ bản chất quyền tài sản của nợ xấu và phân định cấu trúc vận hành giữa thị trường sơ cấp và thứ cấp.
  • Đánh giá có hệ thống thực tiễn thi hành Nghị quyết 42/2017/QH14 và hoạt động của các định chế VAMC, DATC, AMC dựa trên các chuỗi số liệu thực tế (2011 – 2020).
  • So với các nghiên cứu trước đó vốn chỉ tập trung vào hoạt động xử lý nợ đơn lẻ của ngân hàng thương mại hoặc tiếp cận thuần túy kinh tế, khóa luận đã bao quát đồng bộ các quy định pháp luật điều chỉnh toàn bộ thị trường, cập nhật bối cảnh thành lập Sàn giao dịch nợ VAMC (cuối năm 2021) và hậu quả nợ xấu phát sinh từ đại dịch Covid-19.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về dung lượng của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân, đề tài tập trung chuyên sâu vào hai nhóm quy định chính (đối tượng mua bán nợ và chủ thể tham gia thị trường), chưa thể đi sâu phân tích toàn diện 03 nhóm quy định còn lại trong khung pháp lý gồm: phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu, phương thức giao dịch chi tiết và công cụ thanh toán trong mua bán nợ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý về cơ chế vận hành chi tiết của Sàn giao dịch nợ tập trung tại Việt Nam, các mô hình chứng khoán hóa nợ xấu (Securitization) trên thị trường tài chính và các quy chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ giao dịch nợ xấu thứ cấp.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính – Ngân hàng và Tài chính – Ngân hàng khi nghiên cứu về pháp luật xử lý nợ xấu, hợp đồng mua bán nợ và hoạt động tái cấu trúc tín dụng.
  • Cán bộ pháp chế, chuyên viên quản trị rủi ro và xử lý nợ tại các ngân hàng thương mại, các công ty AMC, VAMC và DATC trong việc nhận diện rủi ro pháp lý khi chuyển giao quyền đòi nợ và xử lý tài sản bảo đảm.
  • Các cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính) phục vụ công tác rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến xử lý nợ xấu và thị trường mua bán nợ.

Câu hỏi thường gặp

1. Dưới góc độ pháp lý, bản chất của nợ xấu và đối tượng của hoạt động mua bán nợ xấu được tác giả luận giải như thế nào?
Dưới góc độ bản chất pháp lý, nợ xấu là tổng hòa giữa quyền đòi nợ (quyền tài sản của tổ chức tín dụng) và nghĩa vụ trả nợ (nghĩa vụ tài sản của khách hàng). Đối tượng được chuyển giao trong hoạt động mua bán nợ xấu thực chất là quyền đòi nợ - một dạng quyền tài sản trị giá được bằng tiền theo quy định của pháp luật dân sự.

2. Khóa luận phân tích những biện pháp xử lý nợ xấu chủ yếu nào của các tổ chức tín dụng?
Khóa luận phân tích 05 biện pháp cơ bản gồm: cơ cấu lại nợ, xử lý tài sản bảo đảm, trích lập dự phòng rủi ro, bán nợ xấu và khởi kiện ra Tòa án. Trong đó, bán nợ xấu được đánh giá là biện pháp giúp tổ chức tín dụng chuyển giao rủi ro và thu hồi vốn nhanh chóng nhất.

3. Khung pháp lý thị trường mua bán nợ xấu Việt Nam có những đặc điểm hình thành cơ bản nào?
Khung pháp lý hình thành với 03 đặc điểm: (1) Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển chưa đầy đủ; (2) Hình thành khi chưa tồn tại một thị trường mua bán nợ đúng nghĩa (chủ yếu dựa vào sự can thiệp hành chính của Nhà nước); (3) Tồn tại sự đan xen giữa yêu cầu hoàn thiện pháp luật kinh tế thị trường với tư duy quản lý hành chính tập trung cũ.

4. Sàn giao dịch nợ VAMC được văn bản ghi nhận thành lập vào thời điểm nào và thực trạng vận hành ra sao?
Sàn giao dịch nợ VAMC được thành lập vào quý IV năm 2021. Tại thời điểm khóa luận nghiên cứu (năm 2022), sàn giao dịch này vẫn còn ở giai đoạn sơ khai, cơ chế giao dịch chưa có hướng dẫn đầy đủ nên chưa hiện thực hóa được nhiều giao dịch mua bán nợ xấu chính thức trên sàn.

5. Tác giả đề xuất những giải pháp trọng tâm nào để hoàn thiện khung pháp lý tại Chương 3?
Tác giả đề xuất 06 nhóm giải pháp: nâng cao tính minh bạch của hàng hóa nợ, khắc phục thủ tục đăng ký thay đổi biện pháp bảo đảm, tháo gỡ cách hiểu sai Điều 6 Nghị quyết 42, nâng cao năng lực của VAMC/DATC/AMC, hoàn thiện quy định về chủ thể kinh doanh dịch vụ mua bán nợ, và nới lỏng rào cản pháp lý thu hút nhà đầu tư nước ngoài.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Minh Hường đã xây dựng một công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn pháp lý của thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam. Bằng việc phân tích đa chiều các số liệu giai đoạn 2011 – 2020 và chỉ rõ những điểm nghẽn pháp luật thực định, tác giả đã đề xuất 06 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm khơi thông hành lang pháp lý cho thị trường mua bán nợ xấu. Đây là tài liệu khoa học có ý nghĩa thiết thực đối với công tác nghiên cứu, đào tạo và hoàn thiện chính sách tiền tệ - ngân hàng trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống tài chính hiện nay.