CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU VÀ KHUNG PHÁP LÝ VỀ THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẦU 1. Những vấn đề lý luận về thị trường mua bán nợ xấu 1. Khái quát về nợ xấu 1. Khái niệm, đặc điểm nợ xấu Khái niệm Nợ xấu hay còn được biết đến với những tên gọi khác như “Bad Debt”, “Non-Performing Loan” (NPL) là thuật ngữ đặc thù dùng để định danh những khoản nợ phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng mà TCTD khó có thể thu hồi hoặc không thể thu hồi từ khách hàng.
Nợ xấu từ lâu đã không còn là một vấn đề mới mẻ của bất kỳ nền kinh tế nào, cho đến thời điểm hiện tại, đã có rất nhiều quan điểm được đưa ra để định nghĩa một cách chính xác thuật ngữ này. Dưới góc độ kinh tế, có một số quan điểm nổi bật về nợ xấu như sau: Theo quan niệm của Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB, 2001): Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi hoặc những khoản vay không thu hồi được đầy đủ bởi ngân hàng. ECB liệt kê những trường hợp cụ thể để nhận biết đâu là một khoản nợ xấu dựa trên những căn cứ về kết quả thu hồi khoản nợ hay nói cách khác là dựa vào việc khách hàng có thể trả được nợ và trả nợ một cách đầy đủ cho ngân hàng hay không. Như vậy, ECB định nghĩa nợ xấu bằng yếu tố định tính, tức là dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng.
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) lại đưa ra quan điểm tương đối khác và có phần đầy đủ hơn khi định nghĩa về nợ xấu: “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản phải thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản)” (IMF’s Compilation Guide on 9 Financial Soundness Indicators, 2004). Như vậy, IMF định nghĩa một khoản nợ xấu theo cách thức mô tả hai dấu hiệu định tính và định lượng của chúng. Dấu hiệu về mặt định lượng là thời gian quá hạn trả nợ (gốc hoặc lãi) từ 90 ngày trở lên. Dấu hiệu về mặt định tính là khả năng không thể hoàn trả nợ của khách hàng (bao gồm khả năng khách hàng hoàn toàn không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ khoản nợ) với những căn cứ nghi ngờ xác đáng.
Đồng quan điểm trong cách thức tiếp cận nợ xấu dựa trên cả hai yếu tố định tính và định lượng, Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS, 2002) và nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc cũng thống nhất định nghĩa rằng: nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn từ 90 ngày và/ hoặc có dấu hiệu cho thấy người đi vay không trả được nợ. Tại Việt Nam, các quan điểm về nợ xấu cũng đã có những thay đổi nhất định theo thời gian. Cụ thể, giai đoạn trước năm 2005, việc đánh giá, nhận diện các khoản vay có khả năng mất vốn chỉ dựa trên tiêu chí định lượng là thời gian trả nợ quá hạn. Từ sau năm 2005 cho đến nay, nợ xấu đã được quy định rõ ràng hơn trong các văn bản pháp luật và dần thống nhất với tiêu chuẩn quốc tế.
Theo đó, nợ xấu được nhận diện là một khoản nợ có một hoặc cả hai dấu hiệu: một là, quá hạn thanh toán từ 91 ngày; hai là, được đánh giá là không có khả năng thu hồi. Việc phân loại các nhóm nợ để xác định nợ xấu được thực hiện bằng phương pháp định lượng hoặc phương pháp định tính hoặc kết hợp cả hai phương pháp tùy thuộc vào khả năng, điều kiện của mỗi TCTD. Như vậy, dưới góc độ kinh tế, có thể thấy phần đông quan điểm đều cho rằng: “Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trả nợ trên 90 ngày và/hoặc được đánh giá là khó có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi.” Đây cũng là khái niệm dùng để nhận diện nợ xấu thường thấy trong các quy định pháp luật hiện hành. Dưới góc độ bản chất pháp lý, nợ xấu được nhìn nhận từ 2 phương diện: phương diện của TCTD và phương diện của khách hàng vay nợ.
10 Trên phương diện của TCTD, “nợ xấu là tài sản cho vay khó thu hồi của TCTD dưới dạng quyền tài sản” (Hoàng Văn Thành, 2019). Điều này được hiểu là, trong quan hệ tín dụng, nợ xấu được hình thành từ một khoản tiền TCTD cấp cho khách hàng vay sử dụng trong mô ̣t khoảng thời hạn nhất định theo sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở hợp đồng, đến khi hết thời hạn này, TCTD có quyền thu hồi số tiền đã cấp (quyền đòi nợ) nhưng lại khó có thể thu hồi trên thực tế. Như vậy, đối với TCTD, nợ xấu thực chất là một quyền tài sản, cụ thể là quyền đòi nợ đối với những khoản vay khó có khả năng thu hồi. Trên phương diện của khách hàng vay, nợ xấu được hiểu là nghĩa vụ trả nợ nhưng khó có thể thực hiện.
Đó là nghĩa vụ của khách hàng vay phải hoàn trả gốc và lãi cho TCTD phát sinh trên cơ sở hợp đồng tín dụng đã được xác lập giữa TCTD và khách hàng. Về nguyên tắc, nghĩa vụ này đã phải thực hiện ngay tại thời điểm hợp đồng tín dụng đế n hạn. Tuy nhiên, đối với nợ xấu thì khách hàng vay lại không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ đó. Cụ thể, khoản nợ xấu sẽ phát sinh khi nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đã không được thực hiện đúng đủ trong một khoảng thời gian luật định hoặc khi khách hàng bị TCTD nhận định một cách có căn cứ là khó có khả năng trả được nợ.
Như vậy, nhìn nhận dưới góc độ bản chất pháp lý, nợ xấu là tổng hòa của hai loại quyền và nghĩa vụ có mối quan hệ biện chứng với nhau. Theo đó, khái niệm nợ xấu được phát biểu như sau: “Nợ xấu là một loại quyền tài sản hình thành khi nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đối với TCTD không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ sau một khoảng thời gian luật định hoặc được TCTD nhận định khách hàng rất có thể không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tổng kết lại, so với định nghĩa “nợ xấu” dưới góc độ kinh tế thì định nghĩa “nợ xấu” theo bản chất pháp lý cũng đồng quan điểm về thuộc tính quá hạn của khoản nợ (tiêu chí định lượng) và khả năng khó có thể trả nợ của khách hàng vay (tiêu chí định tính) để xác định đâu là một khoản nợ xấu. Tuy nhiên, để đi phân tích và hiểu một cách cặn kẽ về bản chấ t nợ xấu thì quan điểm nợ 11 xấu dưới góc độ pháp lý lại làm tốt hơn cả, không chỉ nhận diện được đâu là một khoản nợ xấu mà còn có thể luận giải được cả những quan hệ phái sinh từ nợ xấu – đơn cử như hoạt động mua bán nợ xấu.
Đặc điểm Trên cơ sở định nghĩa nợ xấu nêu trên, lại đặt nợ xấu trong mối tương quan với các khái niệm, hiện tượng khác, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản về nợ xấu như sau: Thứ nhất, nợ xấu phát sinh chủ yếu từ hoạt động cho vay của các TCTD. Theo như quy định của pháp luật hiện hành thì TCTD được phép thực hiện hoạt động cấp tín dụng với các nghiệp vụ đa dạng như: “cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” (Quốc hội, 2010). Do đó, nợ xấu – hệ quả của quan hệ tín dụng ngân hàng có thể phát sinh từ tất cả các nghiệp vụ nêu trên. Tuy nhiên, trên thực tế thì cho vay là hình thức cấp tín dụng chiếm tỉ lệ lớn nhất, tạo ra lợi nhuận nhiều nhất cho các TCTD (Theo Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (2019) thì hoạt động cho vay đáp ứng nguồn vốn cho nền kinh tế tới 64,6% trong năm 2017 và ước tính 63,6% trong năm 2018).
Vì vậy, chiếu theo tỷ lệ tương ứng thì các khoản nợ nói chung và nợ xấu nói riêng sẽ có khả năng nảy sinh phần lớn từ hình thức cấp tín dụng cho vay này. Thứ hai, nợ xấu mang bản chất là nợ nhưng lại có những đặc thù riêng của nợ xấu. Bản chất là nợ của nợ xấu thể hiện ở chỗ, trước khi trở thành nợ xấu thì nó cũng là một khoản nợ thông thường, là một nghĩa vụ tài sản hay mối quan hệ pháp lí được xác lập trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng. Nó mang những đặc điểm của nợ như: là khoản phải hoàn trả bao gồm gốc, lãi, phí; thường đi kèm với biện pháp bảo đảm tiền vay; quyền năng chủ sở hữu khoản vay thuộc về TCTD;… Mặt khác, đặc thù riêng của nợ xấu được thể hiện ở chỗ, nợ xấu đã phá vỡ kỳ vọng và mục đích của một khoản nợ thông thường.
Trong quan hệ tín dụng, TCTD sẽ chuyển giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng trong một khoảng thời gian xác định với cam kết 12 hoàn trả cả gốc và lãi. Nếu quan hệ tín dụng được thực hiện đúng theo những nguyên tắc trên thì sẽ đạt được đồng thời 3 mục đích hay kỳ vọng gồm: đầu tiên, khách hàng vay được tiếp cận khoản vốn để thực hiện đầu tư sản xuất kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận; tiếp đó, TCTD sẽ tăng cao doanh thu và ổn định hiệu quả hoạt động; sau cùng, phân bổ và luân chuyển liên tục dòng vốn trong nền kinh tế để khai thác tối đa giá trị và tái sản xuất các giá trị mới, sinh ra một lượng vốn lớn hơn ban đầu. Tuy nhiên, nợ xấu lại là “những khoản nợ quá hạn trả nợ trên 90 ngày và/hoặc được đánh giá là khó có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi” như vậy nợ xấu đã vi phạm ba nguyên tắc cơ bản của một khoản nợ là lòng tin, thời hạn tín dụng và sự cam kết hoàn trả, từ đó phá vỡ cả ba kì vọng, mục đích nêu trên của một quan hệ tín dụng. Nói cách khác, nợ xấu là kết quả ngoài mong muốn của một quan hệ tín dụng không hoàn hảo.
Thứ ba, nợ xấu đem lại những hậu quả nghiêm trọng.