Khóa luận tốt nghiệp luật hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy phát triển thị trường mua bán nợ xấu ở việt nam hiện nay

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp luật hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy phát triển thị trường mua bán nợ xấu ở việt, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

124
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU VÀ KHUNG PHÁP LÝ VỀ THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU

1.1. Những vấn đề lý luận về thị trường mua bán nợ xấu

1.2. Khái quát về nợ xấu

1.3. Tổng quan về thị trường mua bán nợ xấu

1.4. Những vấn đề lý luận về khung pháp lý thị trường mua bán nợ xấu

1.5. Khái niệm về khung pháp lý thị trường mua bán nợ xấu

1.6. Nội dung cơ bản về khung pháp lý thị trường mua bán nợ xấu Việt Nam

1.7. Đặc điểm cơ bản của quá trình hình thành khung pháp lý thị trường mua bán nợ xấu Việt Nam

1.8. Vai trò của khung pháp lý thị trường mua bán nợ xấu Việt Nam

1.9. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam hiện nay

2.2. Các quy định pháp luật về đối tượng mua bán trên thị trường mua bán nợ xấu

2.3. Các quy định về chủ thể mua bán nợ xấu trên thị trường mua bán nợ xấu

2.4. Thực tiễn thực thi các quy định pháp luật về thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam hiện nay

2.5. Các kết quả đạt được từ các quy định pháp luật về thị trường mua bán nợ xấu

2.6. Những bất cập tồn tại trong quá trình thực thi các quy định pháp luật về thị trường mua bán nợ xấu

2.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Định hướng hoàn thiện khung pháp lý thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam hiện nay

3.2. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện khung pháp lý thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam hiện nay

3.2.1. Giải pháp nâng cao tính minh bạch, công khai của hàng hóa nợ xấu

3.2.2. Giải pháp khắc phục quy định về đăng ký thay đổi nội dung biện pháp bảo đảm

3.2.3. Giải pháp khắc phục quy định bị hiểu sai tại Điều 6, Nghị quyết 42

3.2.4. Giải pháp nâng cao năng lực hoạt động của AMC, DATC, VAMC

3.2.5. Giải pháp khắc phục quy định về tổ chức kinh doanh dịch vụ mua bán nợ và tổ chức khác, cá nhân không kinh doanh dịch vụ mua bán nợ

3.2.6. Giải pháp thu hút sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khung pháp lý và thị trường mua bán nợ xấu

Khung pháp lý là yếu tố then chốt trong việc hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ xấu. Tại Việt Nam, nợ xấu đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Phát triển thị trường mua bán nợ xấu đòi hỏi một khung pháp lý chặt chẽ và hiệu quả. Các quy định pháp luật hiện hành đã phần nào tạo nền tảng cho hoạt động này, nhưng vẫn còn nhiều bất cập cần được giải quyết. Hoàn thiện pháp lý là bước đi quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của thị trường này.

1.1. Khái niệm và vai trò của khung pháp lý

Khung pháp lý là hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán nợ xấu. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra môi trường pháp lý minh bạch, công bằng và hiệu quả. Thị trường mua bán nợ xấu chỉ có thể phát triển bền vững khi có một khung pháp lý đầy đủ và phù hợp. Các quy định này cần bao gồm các tiêu chí xác định nợ xấu, quy trình mua bán, và các biện pháp bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia.

1.2. Thực trạng pháp luật hiện hành

Hiện nay, pháp lý mua bán nợ tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, các quy định vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc xác định giá trị nợ xấu và quy trình mua bán. Quản lý nợ xấu cũng là một vấn đề nan giải, khi các quy định chưa đủ mạnh để đảm bảo tính hiệu quả. Chính sách pháp lý cần được cập nhật và hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

II. Phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam

Phát triển thị trường mua bán nợ xấu là một yêu cầu cấp thiết để giải quyết vấn đề nợ xấu tại Việt Nam. Thị trường này không chỉ giúp các ngân hàng và tổ chức tín dụng giảm bớt gánh nặng nợ xấu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường tài chính. Thúc đẩy phát triển thị trường mua bán nợ xấu đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý và các bên tham gia thị trường.

2.1. Thực trạng thị trường mua bán nợ xấu

Thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam hiện nay vẫn còn non trẻ và chưa phát triển đầy đủ. Các giao dịch mua bán nợ xấu chủ yếu diễn ra giữa các ngân hàng và các công ty quản lý tài sản. Thị trường vốn chưa thực sự tham gia mạnh mẽ vào hoạt động này. Giải quyết nợ xấu vẫn là một thách thức lớn, đặc biệt trong bối cảnh hậu đại dịch Covid-19.

2.2. Giải pháp thúc đẩy phát triển thị trường

Để thúc đẩy phát triển thị trường mua bán nợ xấu, cần có các giải pháp đồng bộ. Hoàn thiện pháp lý là bước đầu tiên, tiếp theo là nâng cao năng lực của các công ty quản lý tài sản và thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài. Pháp luật tài chính cần được cập nhật để tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch mua bán nợ xấu. Kinh tế Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ sự phát triển của thị trường này.

III. Hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy phát triển thị trường

Hoàn thiện khung pháp lý là yếu tố then chốt để thúc đẩy phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam. Các quy định pháp luật cần được cập nhật và điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn. Pháp lý mua bán nợ cần được xây dựng trên cơ sở minh bạch, công bằng và hiệu quả. Thị trường tài chính sẽ được hưởng lợi từ một khung pháp lý hoàn thiện và hiệu quả.

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp lý

Để hoàn thiện pháp lý, cần tập trung vào việc xây dựng các quy định rõ ràng về quy trình mua bán nợ xấu, giá trị nợ xấu, và các biện pháp bảo đảm. Chính sách pháp lý cần được cập nhật thường xuyên để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Pháp luật tài chính cần được điều chỉnh để tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch mua bán nợ xấu.

3.2. Giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể bao gồm nâng cao tính minh bạch của hàng hóa nợ xấu, khắc phục các quy định bị hiểu sai, và nâng cao năng lực hoạt động của các công ty quản lý tài sản. Thị trường vốn cần được thu hút tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu. Kinh tế Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ sự phát triển của thị trường này.

21/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp luật hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy phát triển thị trường mua bán nợ xấu ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU VÀ KHUNG PHÁP LÝ VỀ THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẦU 1. Những vấn đề lý luận về thị trường mua bán nợ xấu 1. Khái quát về nợ xấu 1. Khái niệm, đặc điểm nợ xấu Khái niệm Nợ xấu hay còn được biết đến với những tên gọi khác như “Bad Debt”, “Non-Performing Loan” (NPL) là thuật ngữ đặc thù dùng để định danh những khoản nợ phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng mà TCTD khó có thể thu hồi hoặc không thể thu hồi từ khách hàng.

Nợ xấu từ lâu đã không còn là một vấn đề mới mẻ của bất kỳ nền kinh tế nào, cho đến thời điểm hiện tại, đã có rất nhiều quan điểm được đưa ra để định nghĩa một cách chính xác thuật ngữ này. Dưới góc độ kinh tế, có một số quan điểm nổi bật về nợ xấu như sau: Theo quan niệm của Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB, 2001): Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi hoặc những khoản vay không thu hồi được đầy đủ bởi ngân hàng. ECB liệt kê những trường hợp cụ thể để nhận biết đâu là một khoản nợ xấu dựa trên những căn cứ về kết quả thu hồi khoản nợ hay nói cách khác là dựa vào việc khách hàng có thể trả được nợ và trả nợ một cách đầy đủ cho ngân hàng hay không. Như vậy, ECB định nghĩa nợ xấu bằng yếu tố định tính, tức là dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng.

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) lại đưa ra quan điểm tương đối khác và có phần đầy đủ hơn khi định nghĩa về nợ xấu: “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản phải thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản)” (IMF’s Compilation Guide on 9 Financial Soundness Indicators, 2004). Như vậy, IMF định nghĩa một khoản nợ xấu theo cách thức mô tả hai dấu hiệu định tính và định lượng của chúng. Dấu hiệu về mặt định lượng là thời gian quá hạn trả nợ (gốc hoặc lãi) từ 90 ngày trở lên. Dấu hiệu về mặt định tính là khả năng không thể hoàn trả nợ của khách hàng (bao gồm khả năng khách hàng hoàn toàn không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ khoản nợ) với những căn cứ nghi ngờ xác đáng.

Đồng quan điểm trong cách thức tiếp cận nợ xấu dựa trên cả hai yếu tố định tính và định lượng, Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS, 2002) và nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc cũng thống nhất định nghĩa rằng: nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn từ 90 ngày và/ hoặc có dấu hiệu cho thấy người đi vay không trả được nợ. Tại Việt Nam, các quan điểm về nợ xấu cũng đã có những thay đổi nhất định theo thời gian. Cụ thể, giai đoạn trước năm 2005, việc đánh giá, nhận diện các khoản vay có khả năng mất vốn chỉ dựa trên tiêu chí định lượng là thời gian trả nợ quá hạn. Từ sau năm 2005 cho đến nay, nợ xấu đã được quy định rõ ràng hơn trong các văn bản pháp luật và dần thống nhất với tiêu chuẩn quốc tế.

Theo đó, nợ xấu được nhận diện là một khoản nợ có một hoặc cả hai dấu hiệu: một là, quá hạn thanh toán từ 91 ngày; hai là, được đánh giá là không có khả năng thu hồi. Việc phân loại các nhóm nợ để xác định nợ xấu được thực hiện bằng phương pháp định lượng hoặc phương pháp định tính hoặc kết hợp cả hai phương pháp tùy thuộc vào khả năng, điều kiện của mỗi TCTD. Như vậy, dưới góc độ kinh tế, có thể thấy phần đông quan điểm đều cho rằng: “Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trả nợ trên 90 ngày và/hoặc được đánh giá là khó có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi.” Đây cũng là khái niệm dùng để nhận diện nợ xấu thường thấy trong các quy định pháp luật hiện hành. Dưới góc độ bản chất pháp lý, nợ xấu được nhìn nhận từ 2 phương diện: phương diện của TCTD và phương diện của khách hàng vay nợ.

10 Trên phương diện của TCTD, “nợ xấu là tài sản cho vay khó thu hồi của TCTD dưới dạng quyền tài sản” (Hoàng Văn Thành, 2019). Điều này được hiểu là, trong quan hệ tín dụng, nợ xấu được hình thành từ một khoản tiền TCTD cấp cho khách hàng vay sử dụng trong mô ̣t khoảng thời hạn nhất định theo sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở hợp đồng, đến khi hết thời hạn này, TCTD có quyền thu hồi số tiền đã cấp (quyền đòi nợ) nhưng lại khó có thể thu hồi trên thực tế. Như vậy, đối với TCTD, nợ xấu thực chất là một quyền tài sản, cụ thể là quyền đòi nợ đối với những khoản vay khó có khả năng thu hồi. Trên phương diện của khách hàng vay, nợ xấu được hiểu là nghĩa vụ trả nợ nhưng khó có thể thực hiện.

Đó là nghĩa vụ của khách hàng vay phải hoàn trả gốc và lãi cho TCTD phát sinh trên cơ sở hợp đồng tín dụng đã được xác lập giữa TCTD và khách hàng. Về nguyên tắc, nghĩa vụ này đã phải thực hiện ngay tại thời điểm hợp đồng tín dụng đế n hạn. Tuy nhiên, đối với nợ xấu thì khách hàng vay lại không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ đó. Cụ thể, khoản nợ xấu sẽ phát sinh khi nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đã không được thực hiện đúng đủ trong một khoảng thời gian luật định hoặc khi khách hàng bị TCTD nhận định một cách có căn cứ là khó có khả năng trả được nợ.

Như vậy, nhìn nhận dưới góc độ bản chất pháp lý, nợ xấu là tổng hòa của hai loại quyền và nghĩa vụ có mối quan hệ biện chứng với nhau. Theo đó, khái niệm nợ xấu được phát biểu như sau: “Nợ xấu là một loại quyền tài sản hình thành khi nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đối với TCTD không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ sau một khoảng thời gian luật định hoặc được TCTD nhận định khách hàng rất có thể không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tổng kết lại, so với định nghĩa “nợ xấu” dưới góc độ kinh tế thì định nghĩa “nợ xấu” theo bản chất pháp lý cũng đồng quan điểm về thuộc tính quá hạn của khoản nợ (tiêu chí định lượng) và khả năng khó có thể trả nợ của khách hàng vay (tiêu chí định tính) để xác định đâu là một khoản nợ xấu. Tuy nhiên, để đi phân tích và hiểu một cách cặn kẽ về bản chấ t nợ xấu thì quan điểm nợ 11 xấu dưới góc độ pháp lý lại làm tốt hơn cả, không chỉ nhận diện được đâu là một khoản nợ xấu mà còn có thể luận giải được cả những quan hệ phái sinh từ nợ xấu – đơn cử như hoạt động mua bán nợ xấu.

Đặc điểm Trên cơ sở định nghĩa nợ xấu nêu trên, lại đặt nợ xấu trong mối tương quan với các khái niệm, hiện tượng khác, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản về nợ xấu như sau: Thứ nhất, nợ xấu phát sinh chủ yếu từ hoạt động cho vay của các TCTD. Theo như quy định của pháp luật hiện hành thì TCTD được phép thực hiện hoạt động cấp tín dụng với các nghiệp vụ đa dạng như: “cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” (Quốc hội, 2010). Do đó, nợ xấu – hệ quả của quan hệ tín dụng ngân hàng có thể phát sinh từ tất cả các nghiệp vụ nêu trên. Tuy nhiên, trên thực tế thì cho vay là hình thức cấp tín dụng chiếm tỉ lệ lớn nhất, tạo ra lợi nhuận nhiều nhất cho các TCTD (Theo Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (2019) thì hoạt động cho vay đáp ứng nguồn vốn cho nền kinh tế tới 64,6% trong năm 2017 và ước tính 63,6% trong năm 2018).

Vì vậy, chiếu theo tỷ lệ tương ứng thì các khoản nợ nói chung và nợ xấu nói riêng sẽ có khả năng nảy sinh phần lớn từ hình thức cấp tín dụng cho vay này. Thứ hai, nợ xấu mang bản chất là nợ nhưng lại có những đặc thù riêng của nợ xấu. Bản chất là nợ của nợ xấu thể hiện ở chỗ, trước khi trở thành nợ xấu thì nó cũng là một khoản nợ thông thường, là một nghĩa vụ tài sản hay mối quan hệ pháp lí được xác lập trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng. Nó mang những đặc điểm của nợ như: là khoản phải hoàn trả bao gồm gốc, lãi, phí; thường đi kèm với biện pháp bảo đảm tiền vay; quyền năng chủ sở hữu khoản vay thuộc về TCTD;… Mặt khác, đặc thù riêng của nợ xấu được thể hiện ở chỗ, nợ xấu đã phá vỡ kỳ vọng và mục đích của một khoản nợ thông thường.

Trong quan hệ tín dụng, TCTD sẽ chuyển giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng trong một khoảng thời gian xác định với cam kết 12 hoàn trả cả gốc và lãi. Nếu quan hệ tín dụng được thực hiện đúng theo những nguyên tắc trên thì sẽ đạt được đồng thời 3 mục đích hay kỳ vọng gồm: đầu tiên, khách hàng vay được tiếp cận khoản vốn để thực hiện đầu tư sản xuất kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận; tiếp đó, TCTD sẽ tăng cao doanh thu và ổn định hiệu quả hoạt động; sau cùng, phân bổ và luân chuyển liên tục dòng vốn trong nền kinh tế để khai thác tối đa giá trị và tái sản xuất các giá trị mới, sinh ra một lượng vốn lớn hơn ban đầu. Tuy nhiên, nợ xấu lại là “những khoản nợ quá hạn trả nợ trên 90 ngày và/hoặc được đánh giá là khó có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi” như vậy nợ xấu đã vi phạm ba nguyên tắc cơ bản của một khoản nợ là lòng tin, thời hạn tín dụng và sự cam kết hoàn trả, từ đó phá vỡ cả ba kì vọng, mục đích nêu trên của một quan hệ tín dụng. Nói cách khác, nợ xấu là kết quả ngoài mong muốn của một quan hệ tín dụng không hoàn hảo.

Thứ ba, nợ xấu đem lại những hậu quả nghiêm trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Hoàn Thiện Khung Pháp Lý Thúc Đẩy Phát Triển Thị Trường Mua Bán Nợ Xấu Tại Việt Nam là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam. Tài liệu này phân tích các thách thức hiện tại, đề xuất các giải pháp pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý nợ xấu, đồng thời nêu bật tầm quan trọng của việc này đối với sự ổn định và phát triển của hệ thống tài chính. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách thức cải thiện hiệu quả quản lý nợ xấu, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ phát triển tín dụng tiêu dùng của các công ty tài chính trực thuộc các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, nghiên cứu sâu về sự phát triển của tín dụng tiêu dùng và tác động của nó đến hệ thống tài chính. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia Đông Nam Á cung cấp cái nhìn tổng quan về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế, một chủ đề có liên quan mật thiết đến việc xử lý nợ xấu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề tài chính và kinh tế hiện nay.