CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm hộ kinh doanh a. Khái niệm Hộ sản xuất kinh doanh là một đơn vị kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh trên nhiều ngành nghề, với qui mô nhỏ và vừa, được Nhà nước tạo mọi điều kiện để phát triển như một đơn vị kinh tế tự chủ.
Điều 49 NĐ 43 Chính phủ xác định: “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.” Tại cuộc thảo luận quốc tế lần thứ IV về quản lý nông trại ở Hà Lan năm 1980 đưa ra khái niệm: "Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội, có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác". Trên góc độ ngân hàng: Hộ kinh doanh là một thuật ngữ được dùng để chỉ một nhóm đối tượng khách hàng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Ngân hàng xem hộ kinh doanh như là một đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về mọi hành vi trong quan hệ dân sự của mình, nhưng không phải là doanh nghiệp. Ngày nay hộ sản xuất kinh doanh là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước, sự tồn tại của loại hình kinh tế này là tất yếu của quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta.
Hộ kinh doanh là một lực lượng sản xuất to lớn, một bộ phận kinh tế chủ yếu của Luan van 8 nước ta, hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghề như: sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, thương nghiệp, xây dựng, dịch vụ … và trên khắp cả nước. Đặc điểm hộ kinh doanh Hộ kinh doanh có những đặc điểm sau: - Chủ hộ kinh doanh có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình. - Phải thực hiện kinh doanh tại một địa điểm. Đối với hộ kinh doanh buôn chuyến, kinh doanh lưu động thì phải chọn một địa điểm cố định để đăng ký kinh doanh.
Địa điểm này có thể là nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi đăng ký tạm trú hoặc địa điểm thường xuyên kinh doanh nhất, nơi đặt địa điểm thu mua giao dịch. Hộ kinh doanh buôn chuyến, kinh doanh lưu động được phép kinh doanh ngoài địa điểm đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh nhưng phải thông báo cho cơ quan thuế, cơ quan quản lý thị trường nơi đăng ký trụ sở và nơi tiến hành hoạt động kinh doanh. - Sử dụng không quá 10 lao động, nếu có sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp. - Không có tư cách pháp nhân, không có con dấu riêng, - Chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh, - Hộ kinh doanh phải đăng ký kinh doanh và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh được cấp trên cơ sở thông tin trong hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh do người thành lập hộ kinh doanh tự khai và tự chịu trách nhiệm. - Hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp nên không được áp dụng các quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp. Trong các mối quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự của hộ sản xuất kinh doanh trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì chủ hộ là người đại diện và Luan van 9 chịu trách nhiệm đến cùng trong quan hệ kinh tế, dân sự đó bằng tài sản chung của hộ. - Về nhân lực: Hộ kinh doanh chủ yếu sử dụng nguồn nhân lực tự có.
Đây là nguồn nhân lực ở quy mô gia đình được huy động để tăng gia sản xuất. Một số hộ kinh doanh hàng hoá có thuê thêm lao động vào lúc thời vụ hoặc thuê lao động thường xuyên nếu hộ đó có quy mô sản xuất lớn. - Về quy mô sản xuất kinh doanh: Hộ kinh doanh sản phẩm, dịch vụ với quy mô nhỏ, quy mô ở mức gia đình và trang trại là chủ yếu. Do điều kiện về nguồn vốn và khả năng quản lý, sức cạnh tranh trên thị trường nên hộ kinh doanh thường có quy mô nhỏ.
- Về ngành nghề: Hộ kinh doanh hoạt động sản xuất kinh doanh trên rất nhiều lĩnh vực, với nhiều ngành nghề rất đa dạng và phong phú bao gồm sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thậm chí có nhiều hộ còn tham gia hoạt động sản xuất cả trong lĩnh vực công nghiệp như công nghiệp may mặc, xây dựng cơ bản. - Về khả năng quản lý: Khả năng quản lý của hộ kinh doanh nhìn chung còn rất nhiều hạn chế. Khả năng quản lý và tổ chức sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm được tích luỹ trong cuộc sống. - Về nguồn vốn sản xuất kinh doanh: Nguồn vốn sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh chủ yếu là vốn tự có với quy mô nhỏ.
Đây là nguồn vốn do tiết kiệm tích luỹ được hoặc là do vay mượn của người quen, bạn bè. Vì vậy nhu cầu vay vốn của HKD là rất lớn. Khái niệm, đặc điểm cho vay HKD của NHTM a. Khái niệm cho vay HKD Cho vay HKD là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NH cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng là HKD một khoản tiền để sử dụng với Luan van 10 mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi.
Đặc điểm cho vay HKD Hoạt động cho vay HKD của NHTM có một số đặc điểm: - Cho vay hộ kinh doanh để sản xuất kinh doanh là một lĩnh vực có tiềm năng lớn. HKD vay vốn để thực hiện hoạt động SXKD của mình. HKD hoạt động trong rất nhiều ngành nghề , lĩnh vực khác nhau và trên mọi vùng miền khắp cả nước. Với số lượng khách hàng nhiều và ngày càng tăng thì cho vay hộ kinh doanh sẽ có tiềm năng rất lớn.
- Nhu cầu vay kinh doanh co giãn nhiều với lãi suất. Người đi vay quan tâm nhiều đến lãi suất phải chịu. Đối với việc kinh doanh, lợi nhuận là yếu tố quan trọng đóng vai trò quyết định đến kết quả kinh doanh. Vì vậy, khi lãi suất cho vay kinh doanh biến động sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận kinh doanh, nhất là khi lãi suất tăng thì nhu cầu vay sẽ giảm.
Do đó, nhu cầu vay kinh doanh co dãn nhiều với lãi suất, và lãi suất là yếu tố quan tâm hàng đầu của khách hàng vay kinh doanh. - Phân tán được rủi ro do số lượng khách hàng đông. Số lượng khách hàng hộ kinh doanh nhiều, thường vay với những món nhỏ, lẻ vì vậy nếu có một khách hàng rơi vào tình trạng phá sản cũng không ảnh hưởng nhiều đến ngân hàng, rủi ro danh mục của ngân hàng cũng nhẹ hơn do phân tán cho nhiều khách hàng. - Chi phí quản lý cao do nhiều khách hàng.
Do số lượng khách hàng nhiều, nhưng giá trị mỗi khoản vay không cao nên ngân hàng phải cần nhiều nhân lực để phục vụ cho hoạt động cho vay, từ bước tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hồ sơ, quyết định cho vay, giải ngân cũng như theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và thu hồi nợ. Hơn nữa ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn để quản lý các khoản vay do thông tin về tình hình tài chính chưa rõ ràng, công khai Luan van 11 minh bạch như ở các công ty lớn. Vì vậy với những nguyên nhân trên nên dẫn đến chi phí quản lý cho vay hộ kinh doanh tăng. Phân loại cho vay HKD Có thể phân loại cho vay HKD theo một số tiêu chí: - Theo thời hạn cho vay: + Cho vay ngắn hạn (dưới 12 tháng với mục đích đầu tư tài sản hoặc đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngắn hạn); + Cho vay trung hạn (1 - 5 năm, tài trợ việc đầu tư tài sản cố định); + Cho vay dài hạn ( tài trợ đầu tư các dự án dài hạn, trên 5 năm); - Theo phương thức cho vay: là hình thức cung ứng tiền vay của ngân hàng cho khách hàng vay vốn.
Phương thức cho vay do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận trên cơ sở phù hợp với sử dụng vốn vay của ngân hàng và khả năng kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng với ngân hàng. NH có nhiều phương thức cho vay HKD như cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo phương án đầu tư và một số phương thức cho vay khác - Theo ngành nghề SXKD: + Cho vay nông lâm ngư nghiệp. + Cho vay công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng. + Cho vay thương mại.
+ Cho vay kinh doanh dịch vụ. - Theo hình thức đảm bảo: + Cho vay có tài sản bảo đảm bằng các hình thức thế chấp, cầm cố tài sản của HKD vay vốn hay của bên thứ 3. + Cho vay không có TSBĐ đối với những HKD uy tín, có năng lực tài chính tốt hoặc cho vay chỉ định theo chính sách, chủ trương của chính phủ v. Vai trò cho vay HKD của NHTM a.
Đối với NHTM cho vay Trong nền kinh tế thị trường, cho vay là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng. Đối với hầu hêt các ngân hàng, dư nợ tín dụng chiếm tới hơn 50% tổng tài sản có và thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm khoảng từ 1/2 đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng. Mặt khác, rủi ro trong hoạt động cho vay có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục cho vay. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động cho vay của ngân hàng, việc ngân hàng không thu hồi được vốn, có thể là do ngân hàng buông lỏng quản lý, cấp tín dụng không minh bạch, áp dụng một chính sách tín dụng kém hợp lý, hay do nền kinh tế suy thoái không lường trước hay do nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng … Trong điều kiện hiện nay khi sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng khốc liệt, cho vay HKD giúp ngân hàng mở rộng quan hệ với khách hàng, mở rộng thị trường, thị phần, đa dạng hóa hoạt động tín dụng.