phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về cho vay hộ kinh doanh tại Ngân hàng thƣơng mại - Chƣơng 2: Thực trạng cho vay hộ kinh doanh tại CN Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Quận Cẩm Lệ - Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay tại CN Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Quận Cẩm Lệ. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Môi trƣờng kinh doanh cạnh tranh ngày càng khốc liệt đòi hỏi các ngân hàng phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh. Và việc phát triển và năng cao khả năng cạnh tranh của các gói sản phẩm dịch vụ là nhiệm vụ hàng đầu để các ngân hàng phản ứng với thị trƣờng. Để có thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, tác giả đã tiến hành thu thập thông tin, tìm hiểu các luận văn thạc sĩ có nội dung tƣơng tự đã đƣợc công nhận để tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn.
- Luận văn cao học đề tài: “Hoàn thiện hoạt động cho vay kinh doanh cà phê tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội chi nhánh Đăk Lăk” do học viên Nông Mạnh Cƣờng thực hiện năm 2015 tại trƣờng Đại học Kinh Tế Đà Nẵng. 4 Tác giả đã nghiên cứu những cơ sở lý luận về cho vay hộ kinh doanh, phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động cho vay hộ kinh doanh, từ đó đƣa ra giải pháp mở rộng cho vay hộ kinh doanh. - Luận văn cao học đề tài: “ Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với hộ kinh doanh tại ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu - Chi nhánh Đà Nẵng” do học viên Ngô Bảo Thiên thực hiện năm 2013 và luận văn phân tích của tác giả Nguyễn Kiều Trang trong đề tài “ Phân tích tình hình cho vay hộ kinh doanh tại Ngân hàng HDBank - Chi nhánh Đăk Lăk” thực hiện năm 2015, tác giả đã định hình đƣợc cơ sở lý luận về những nội dung hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại và chi tiết hóa những vấn đề cơ bản đối với hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại. Quá trình phân tích thực trạng cho vay kinh doanh, tác giả đã sử dụng các tiêu chí đánh giá mở rộng cho vay kinh doanh một cách có hệ thống để xem xét đánh giá tình hình triển khai cho vay kinh doanh của ngân hàng và đƣa ra những nhận định khá rõ về thực trạng cho vay doanh nghiệp và hộ kinh doanh tại ngân hàng.
Trên cơ sở lý luận về lợi ích, đặc điểm và vai trò của hoạt động cho vay kinh doanh, tác giả đã đề xuất các giải pháp có tính khả thi để mở rộng cho vay kinh doanh phù hợp với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. - Luận văn: “ Phát triển cho vay hộ kinh doanh tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Quận Ngũ Hành Sơn” của tác giả Ngô Thị Thu Thủy tại Đà Nẵng năm 2015, đề tài này nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng phát triển cho vay hộ kinh doanh và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay hộ kinh doanh tại quận Ngũ Hành Sơn. Khu vực có địa bàn gần và có những đặc điểm tƣơng đồng về dân cƣ với Quận Cẩm Lệ. - Luận văn: “ Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thông huyện Ninh Giang” do 5 học viên Phạm Thanh Trang thực hiện năm 2013, đề tài này tập trung nghiên cứu về tình hình cấp tín dụng tại đơn vị qua đó xác định đƣợc những nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả cấp tín dụng và đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cấp tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ninh Giang - Luận văn còn đƣợc tham khảo từ một số giáo trình về Quản trị Ngân hàng Thƣơng mại cũng nhƣ các báo cáo tài chính, báo cáo về tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Quận Cẩm Lệ qua các năm.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY HỘ KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. NHTM và các hoạt động của NHTM a. Ngân hàng thương mại và chức năng của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán.
Ngân hàng thƣơng mại có các chức năng sau: Chức năng tạo phương tiện thanh toán: Toàn bộ hệ thống ngân hàng tham gia tạo phƣơng tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi đƣợc mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở mở rộng cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu (tức làm tăng số dƣ tiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác, từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lƣợng tiền gửi thanh toán nhiều gấp bội so với lƣợng tiền cơ sở thông qua hoạt động tín dụng. Nhƣ vậy, chức năng tạo phƣơng tiện thanh toán của ngân hàng đƣợc phát sinh dựa trên chức năng trung gian tài chính (huy động và cấp tín dụng) và chức năng trung gian thanh toán.
Khi thực hiện chức năng này, hệ thống ngân hàng tham gia cung tiền, tác động tới lƣợng tiền cung ứng, qua đó ảnh hƣởng tới lạm phát và tăng tƣởng kinh tế. Chức năng trung gian tín dụng - Chức năng trung gian tín dụng đƣợc xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thƣơng mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, 7 NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thƣơng mại vừa đóng vai trò là ngƣời đi vay, vừa đóng vai trò là ngƣời cho vay và hƣởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: ngƣời gửi tiền và ngƣời đi vay.
- Chức năng trung gian thanh toán Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhƣ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phƣơng tiện thanh toán tiện lợi nhƣ séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phƣơng thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp ngƣời phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phƣơng thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm đƣợc rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn.
Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lƣu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lƣu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận nhƣ là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Các hoạt động của ngân hàng thương mại Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Hoạt động huy động vốn: Để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, ngoài nguồn vốn của bản thân mình, các NHTM tiến hành huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế dƣới các hình thức khác nhau, bao gồm: + Nguồn tiền gửi: Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vƣợng và phát triển của ngân hàng, là cơ sở của các khoản cho vay và do đó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của ngân hàng.
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với rất nhiều mục đích khác nhau hoặc để tiết kiệm hoặc để thanh toán, tuỳ theo mục đích của khách hàng ngân hàng có các hình thức huy động nhƣ: tiền gửi giao dịch, tiền gửi phi giao dịch. + Huy động vốn thông qua việc phát hành kỳ phiếu, tiết kiệm trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi… + Nguồn vay NHNN, các tổ chức tín dụng khác: NHNN là ngân hàng của các ngân hàng, là ngƣời cho vay cuối cùng của các tổ chức tín dụng trong trƣờng hợp họ không có đủ khả năng thanh toán. Hoạt động sử dụng vốn Trên cơ sở lƣợng vốn huy động đƣợc, NHTM tiến hành sử dụng vốn để tạo ra lợi nhuận. Nghiệp vụ cho vay và đầu tƣ là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM.
Các hoạt động sử dụng vốn bao gồm: + Dự trữ: Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần phải đảm bảo an toàn để giữ vững đƣợc lòng tin của khách hàng. Muốn có đƣợc sự tin cậy về phía khách hàng, trƣớc hết phải đảm bảo khả năng thanh toán: đáp ứng đƣợc nhu cầu rút tiền của khách hàng. Muốn vậy, 9 các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn không sử dụng nó để đáp ứng nhu cầu thanh toán. Phần vốn để dành này gọi là dự trữ.
NHTW đƣợc phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kỳ nhất định. + Cấp tín dụng: Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các NHTM có thể dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân. + Đầu tƣ: Hoạt động đầu tƣ có vị trí quan trọng thứ hai sau hoạt động cho vay, nó mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể cho NHTM.