phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, kết cấu của luận văn bao gồm những nội dung sau: CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI. CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NĂM 2010 CỦA VIETCOMBANK. CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG NĂM 2010 CỦA VIETCOMBANK TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG 1. Khái niệm xếp hạng tín dụng Xếp hạng tín dụng (credit ratings) là thuật ngữ do John Moody đưa ra vào năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín dụng lần đầu tiên cho 1.500 loại trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gổm 3 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt là AAA đến C (hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế.
Chúng ta có thể điểm qua một số định nghĩa về xếp hạng tín dụng như sau: Theo Bohn, John A viết trong cuốn “Phân tích rủi ro trên các thị trường đang chuyển đổi” thì “Xếp hạng tín dụng là sự đánh giá về khả năng một nhà phát hành có thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoán trong suốt thời gian tồn tại của nó”. Theo định nghĩa của công ty Merrill Lynch thì “Xếp hạng tín dụng là đánh giá hiện thời của công ty xếp hạng tín dụng về chất lượng tín dụng của một nhà phát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định. Nói khác đi, đó là cách đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng đang được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn”. Theo công ty Moody’s thì “Xếp hạng tín dụng là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ”.
Theo tự điển thị trường chứng khoán thì “xếp hạng tín dụng là cách ước tính chính thức tín dụng từ trước đến nay của cá nhân hay công ty về khả năng chi trả bao gồm tất cả các số liệu kiểm tra, phân tích, hồ sơ lưu trữ về khả năng trách dụng tín dụng của cá nhân và công ty kinh doanh”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Từ các định nghĩa trên, thì xếp hạng tín dụng có thể được khái quát như sau: Xếp hạng tín dụng là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng thông qua hệ thống xếp hạng theo ký hiệu. Phân loại và đối tƣợng xếp hạng tín dụng - XHTD cá nhân: áp dụng đối với các khách hàng cá nhân tham gia vào hoạt động tín dụng của các NHTM. Việc XHTD cá nhân được thực hiện dựa trên lịch sử vay – trả nợ, số lượng và loại tài sản đảm bảo mà cá nhân đó đang sở hữu, những khoản thanh toán chậm hoặc nợ quá hạn… - XHTD doanh nghiệp: XHTD doanh nghiệp về cơ bản dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp để đánh giá.
- XHTD quốc gia: đánh giá mức độ tin cậy của một quốc gia để có thể so sánh môi trường đầu tư giữa các quốc gia. Việc XHTD các quốc gia dựa trên các chỉ số phát triển chung như: chỉ số phát triển các ngành, chỉ số an toàn vốn đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia, mức độ ổn định chính trị, … - XHTD các công cụ đầu tư như: trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ và các loại trái phiếu, kì phiếu ngân hàng, cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường,… Việc XHTD c á c c ô n g c ụ được thực hiện dựa trên một số chỉ tiêu như: khả năng thanh khoản, kì hạn, lãi suất, mệnh giá, các rủi ro có thể gặp phải. Ở nước ta hiện nay mới chỉ tập trung xếp hạng các doanh nghiệp và cá nhân. Xếp hạng quốc gia và các công cụ đầu tư thì chúng ta chưa thực hiện mà chỉ có những tổ chức xếp hạng lớn như Moody’s, S&P hay Fitch, … xếp hạng.
Mục đích của xếp hạng tín dụng 1.1 Đối với Ngân hàng thương mại Hoạt động của NHTM bao gồm nhiều loại nghiệp vụ, nhưng tựu trung lại là loại hình kinh doanh tiền tệ - tín dụng của một trung gian tài chính dựa trên cơ sở thu hút tiền của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán. Để duy trì khả năng hoàn trả số tiền huy động của khách hàng và bảo toàn vốn thì NHTM phải đảm bảo thu hồi được số vốn đã cho vay của mình. Vì vậy, mục đích của XHTD đối với ngân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 hàng là: Hạn chế, ngăn ngừa rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng luôn gắn liền với hoạt động cho vay của ngân hàng. Để giảm thiểu rủi ro tín dụng thì các ngân hàng áp dụng các biện pháp như: thẩm định hiệu quả phương án kinh doanh, giám sát quá trình hoạt động và tình hình tài chính khách hàng, xem xét khả năng trả nợ, quy định hạn mức tín dụng, tài sản thế chấp…Bên cạnh các biện pháp đó thì XHTD đã cho thấy phần nào mức độ rủi ro của khách hàng nên để hạn chế rủi ro các NHTM chỉ xét cho vay những khách hàng có kết quả XHTD đạt một mức được quy định cụ thể.
Hỗ trợ phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro Kết quả XHTD khách hàng của hệ thống XHTD nội bộ sẽ làm căn cứ để tính toán và trích lập dự phòng rủi ro. Xây dựng chính sách khách hàng Chính sách khách hàng của ngân hàng sẽ được áp dụng cho từng nhóm khách hàng dựa trên kết quả XHTD. Chính sách khách hàng bao gồm: Chính sách tín dụng, Chính sách lãi suất, Chính sách tài sản đảm bảo, Chính sách các loại phí.2 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước Đối với NHNN, qua thông tin từ XHTD, NHNN có thể đánh giá được đối tượng quản lý của mình và có cơ sở thông tin để so sánh mức độ rủi ro theo từng loại đối tượng, vùng kinh tế, ngành kinh tế, lĩnh vực hoạt động để từ đó có chính sách tiền tệ, tín dụng thích hợp, thanh tra giám sát các tổ chức tín dụng.3 Đối với các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán XHTD cung cấp những thông tin cần thiết cho nhà đầu tư về tình trạng của nhà phát hành để lựa chọn khi đầu tư vào một chứng khoán thích hợp đồng thời tạo điều kiện huy động vốn trên thị trường chứng khoán thực hiện được dễ dàng, thuận lợi hơn. Các phƣơng pháp XHTD 1.
Phương pháp chuyên gia Phương pháp chuyên gia là phương pháp thu thập và xử lý những đánh giá dự TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 báo bằng cách tập hợp và hỏi ý kiến các chuyên gia giỏi thuộc một lĩnh vực hẹp của khoa học. Trong XHTD phương pháp này dựa trên những kinh nghiệm đã được đúc kết của các chuyên gia, qua đó để có thể tìm ra bản chất của mối quan hệ giữa có nguy cơ phá sản và các nhân tố ảnh hưởng đến nó. Kinh nghiệm được tích lũy từ: - Những quan sát và trải nghiệm thực tế mang tính chủ quan. - Phỏng đoán về mối tương quan của việc kinh doanh và có nguy cơ phá sản.
- Các kiến thức kinh tế liên quan tới việc có nguy cơ phá sản. Các ƣu và nhƣợc điểm của phƣơng pháp chuyên gia Ƣu điểm: - Tận dụng được kinh nghiệm và tri thức chuyên sâu của các chuyên gia trong chuyên ngành của họ. Đồng thời, do kết quả đánh giá được tập hợp từ nhiều người nên mức độ tin cậy khá cao. - Kết quả được tập hợp từ nhiều người nên nó được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau, tránh được sự phiến diện, một chiều.
Nhƣợc điểm: - Chi phí đánh giá có thể rất cao khi số lượng người tham gia đông và số vòng thu thập ý kiến gồm nhiều lần. - Không thể loại bỏ hoàn toàn khía cạnh chủ quan trong kết quả đánh giá. Phương pháp thống kê Phương pháp thống kê là một quá trình bao gồm điều tra thống kê, khái quát hoá thông tin (còn gọi là tổng hợp thống kê), phân tích và dự báo. Đây chính là quá trình mô hình hóa toán học các vấn đề cần phân tích theo mục tiêu của nghiên cứu.
Mô hình thống kê kiểm định các giả thuyết sử dụng các mô hình thống kê trên bộ dữ liệu thực nghiệm. Trong quá trình XHTD, sử dụng các phương pháp thống kê đòi hỏi việc đưa ra các giả thuyết liên quan tới tiêu chuẩn nguy cơ phá sản tiềm năng. Những giả thuyết này xem xét đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp là cao, thấp hơn nguy cơ phá sản trung bình của những doanh nghiệp có nguy cơ phá sản so với những doanh nghiệp không có nguy cơ phá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những thông tin về nguy cơ phá sản của mỗi doanh nghiệp đều được thể hiện qua bộ số liệu thực nghiệm, những giả thuyết này có thể bị bác bỏ hoặc được chấp nhận một cách phù hợp.5 Mô hình xếp hạng tín dụng.
Mô hình đơn giản nhất được sử dụng trong XHTD là mô hình một biến số. Chỉ tiêu đánh giá phải được thống nhất trong mô hình. Tỷ suất tài chính được sử dụng trong mô hình một biến số bao gồm các chỉ tiêu thanh khoản, các chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu cân nợ, chỉ tiêu lợi tức, chỉ tiêu vay nợ và chi phí trả lãi. Các chỉ tiêu phi tài chính thường được sử dụng bao gồm thời gian hoạt động của doanh nghiệp,số năm kinh nghiệm và trình độ của nhà quản trị cấp cao, triển vọng ngành.
Nhược điểm của mô hình một biến số là kết quả dự báo khó chính xác nếu thực hiện phân tích và cho điểm các chỉ tiêu đánh giá một cách riêng biệt, hơn nữa, mỗi người có thể hiểu các chỉ tiêu đánh giá theo một cách khác nhau. Để khắc phục nhược điểm này, các nhà nghiên cứu đã phát triển những mô hình kết hợp nhiều biến số thành một giá trị để dự báo sự thất bại của doanh nghiệp như mô hình phân tích hồi quy, phân tích lôgích, phân tích xác xuất có điều kiện, phân tích phân biệt nhiều biến số.