CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP VÀ MÔ HÌNH ĐIỂM SỐ TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA EDWARD I. Tổng quan về Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp 1. Khái niệm về Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Thuật ngữ “credit ratings” do John Moody đưa ra vào năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín nhiệm lần đầu tiên cho 1.500 loại trái phiếu của 250 công ty. Ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ “credit ratings” được tồn tại với nhiều tên gọi khác nhau như: xếp hạng tín dụng; xếp hạng tín nhiệm; định hạng tín dụng hay xếp hạng khách hàng… và vì vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau: - Theo Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam: “Xếp hạng tín dụng doanh nghiệp là đánh giá khả năng của doanh nghiệp thực hiện thanh toán đúng hạn một nghĩa vụ tài chính”.
- Theo Công ty Cổ phần Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp Việt Nam thì định nghĩa “Xếp hạng tín nhiệm có nghĩa là việc phân loại, sắp xếp một đối tượng trên cơ sở đo lường rủi ro tín dụng”. - Theo Từ điển Thị trường chứng khoán thì “xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp là cách ước tính chính thức tín nhiệm từ trước đến nay của doanh nghiệp về khả năng chi trả bao gồm tất cả các số liệu kiểm tra, phân tích, hồ sơ lưu trữ về khả năng trách nhiệm tín dụng doanh nghiệp”. Trước nhiều tên gọi và định nghĩa khác nhau khi nói đến thuật ngữ “credit ratings” tại Việt Nam, trong phạm vi của đề tài này sẽ sử dụng thống nhất và xuyên suốt cụm từ “xếp hạng tín dụng” như trong Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 đã sử dụng tại Khoản 2 Điều 93 khi yêu cầu các Tổ chức tín dụng phải ban hành quy định về Hệ thống “xếp hạng tín dụng” nội bộ. Do vậy, từ các định nghĩa trên có thể định nghĩa như sau: “Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp là tập hợp các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính nhằm đánh giá năng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 lực tài chính, tình hình hoạt động hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp được xếp hạng, từ đó, xác định được mức độ rủi ro không trả được nợ và khả năng trả nợ trong tương lai”.
Đối tượng của Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Đối tượng của HTXHTDDN tại Ngân hàng bao gồm doanh nghiệp cũ và doanh nghiệp mới có báo cáo tài chính đầy đủ từ hai năm trở lên tính đến thời điểm xếp hạng, trong đó doanh nghiệp cũ là doanh nghiệp đã và đang quan hệ tín dụng với Ngân hàng; còn doanh nghiệp mới là doanh nghiệp trước đây chưa từng có quan hệ tín dụng với Ngân hàng hoặc doanh nghiệp mới có quan hệ tín dụng và chưa đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc/và nợ lãi đầu tiên. Bên cạnh đó, để phục vụ cho chính sách khách hàng trong hoạt động tín dụng một số Ngân hàng đã xây dựng được mô hình chấm điểm cho doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp đầu tư dự án. Ngoài ra, có một số trường hợp không cần xếp hạng tín dụng để phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro nhưng Ngân hàng vẫn tiến hành xếp hạng tín dụng doanh nghiệp thường xuyên, liên tục để Cán bộ tín dụng tham khảo trong quá trình quản lý chặt chẽ khách hàng để thu hồi nợ cũng như phục vụ cho công tác tiếp thị, tìm kiếm khách hàng tiềm năng: - Doanh nghiệp có dư nợ ngoại bảng tại thời điểm đánh giá mà khoản nợ này trước đây đã được Ngân hàng xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro; - Doanh nghiệp bị âm vốn chủ sở hữu và kinh doanh thua lỗ trong năm tài chính gần nhất; - Doanh nghiệp có nợ quá hạn trên 360 ngày; - Doanh nghiệp chưa có quan hệ tín dụng với Ngân hàng nhưng được Ngân hàng xác định là tiềm năng có thể hướng tới. Vai trò của Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Đặc điểm chung của các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay là danh mục tín dụng vẫn chiếm phần lớn trong tổng tài sản, khoảng từ 60% đến 70% tổng tài sản của Ngân hàng.
Do vậy, xếp hạng tín dụng doanh nghiệp đang ngày càng trở nên cần thiết và quan trọng đối với công tác quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 ro tín dụng nói riêng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Bên cạnh đó, theo Khoản 2 Điều 93 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 thì Hệ thống xếp hạng tín dụng là một trong những quy định nội bộ mà các Ngân hàng thương mại bắt buộc phải xây dựng, điều đó càng cho thấy vai trò quan trọng của HTXHTDDN trong các Ngân hàng thương mại. Ngoài ra, HTXHTDDN còn có vai trò rất hữu ích đối với nhiều đối tượng trong nền kinh tế như: - Đối với bản thân doanh nghiệp được xếp hạng cao sẽ gia tăng vị thế và uy tín, khi có nhu cầu vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh thì việc thu hút nguồn vốn của nhà đầu tư sẽ thuận lợi hơn, bên cạnh đó cũng giúp cho doanh nghiệp tiếp cận vốn của Ngân hàng được dễ dàng hơn, chi phí sử dụng vốn thấp hơn. - Đối với nhà đầu tư thì kết quả xếp hạng tín dụng doanh nghiệp sẽ là cơ sở quan trọng để lựa chọn hay cơ cấu lại danh mục đầu tư khi cần thiết.
Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp đang niêm yết trên sàn chứng khoán thì một kết quả xếp hạng tín dụng cao tại một tổ chức hay Ngân hàng uy tín sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư quan tâm, lựa chọn. - Đối với cơ quan chức năng thì kết quả xếp hạng sẽ là công cụ để nhận biết được thực trạng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như có thêm thông tin để đánh giá “sức khỏe” nền kinh tế, qua đó tăng cường công cụ giám sát rủi ro, điều chỉnh chính sách vĩ mô, ban hành các chính sách hỗ trợ nền kinh tế khi cần thiết… nhằm đưa kinh tế phát triển ổn định và bên vững. Mục đích của Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Mục đích chính của sự ra đời HTXHTDDN tại các Ngân hàng thương mại nhằm đánh giá về rủi ro tín dụng của doanh nghiệp tại ngân hàng, rủi ro do doanh nghiệp không có khả năng hoàn trả vốn vay hoặc rủi ro do ngân hàng phải thực hiện thay các nghĩa vụ cam kết bảo lãnh cho doanh nghiệp với một bên thứ ba. Bên cạnh đó, các Ngân hàng còn sử dụng HTXHTDDN trong các quy trình quản lý rủi ro tín dụng sau: ban hành chính sách khách hàng; quy trình cho vay; giám sát rủi ro danh mục tín dụng; lập báo cáo quản trị rủi ro; phân loại nợ và trích LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 lập dự phòng rủi ro tín dụng; xác định mức vốn an toàn tối thiểu; phân tích hiệu quả sinh lời của danh mục tín dụng và xác định khung lãi suất tiêu chuẩn… Tóm lại, HTXHTDDN là một cấu phần quan trọng và là một công cụ đắc lực trong quản trị kinh doanh ngân hàng hiện nay.
Tìm hiểu Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay 1. Hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam HTXHTDDN của VCB hiện nay được ban hành tại Quyết định số 117/QĐ- VCB.CSTD ngày 17/03/2010 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam. Đây là công cụ đo lường rủi ro tín dụng đối với từng doanh nghiệp theo phương pháp dựa vào một thang điểm thống nhất để đánh giá các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở kết quả tổng điểm cuối cùng, doanh nghiệp được xếp vào một trong 16 hạng, đây là cơ sở để VCB xem xét cấp hạn mức tín dụng; phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro; quản lý rủi ro theo danh mục khách hàng.
HTXHTDDN của VCB phân chia doanh nghiệp thành nhiều đối tượng khác nhau: doanh nghiệp thông thường, doanh nghiệp tiềm năng và doanh nghiệp mới thành lập; tương ứng với mỗi đối tượng là một mô hình chấm điểm riêng biệt: 1. Đối với doanh nghiệp thông thường, tiềm năng Đây là doanh nghiệp có báo cáo tài chính đầy đủ từ hai năm trở lên kể từ khi có doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh và hiện đang có quan hệ tín dụng với VCB. Trước tiên, doanh nghiệp được chia theo 52 nhóm ngành kinh tế, tương ứng với 52 bộ chỉ tiêu chấm điểm riêng. Các bộ chỉ tiêu này khác nhau về danh mục các chỉ tiêu cũng như khác nhau về bộ giá trị chuẩn – thang điểm và trọng số của mỗi chỉ tiêu.
Việc xác định ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp dựa vào hoạt động sản xuất kinh doanh chính theo nguyên tắc: hoạt động kinh doanh chính là hoạt động đem lại doanh thu lớn nhất trong tổng doanh thu hàng năm của khách hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Sau khi xác định được ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tiến hành xác định quy mô của doanh nghiệp dựa trên các tiêu chí: vốn chủ sở hữu, số lượng lao động, doanh thu thuần và tổng tài sản được trình bày như trong Bảng 1. của Phụ lục 1 (đính kèm đề tài này). Mỗi chỉ tiêu về quy mô có 8 giá trị chuẩn và thang điểm từ 1 – 8 điểm, điểm quy mô được tính bằng tổng điểm của 4 chỉ tiêu này.
Doanh nghiệp có điểm về quy mô càng lớn thì quy mô của doanh nghiệp càng lớn: quy mô lớn (từ 22 điểm đến 32 điểm), quy mô trung bình (từ 12 đến 21 điểm), quy mô nhỏ (từ 6 điểm đến 11 điểm) và quy mô siêu nhỏ (dưới 6 điểm). Trên cơ sở xác định quy mô của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp có điểm từ 6 đến 32 điểm thì áp dụng Bộ chỉ tiêu doanh nghiệp thông thường; nếu doanh nghiệp có điểm chỉ tiêu dưới 6 điểm thì áp dụng Bộ chỉ tiêu doanh nghiệp siêu nhỏ để chấm điểm xếp hạng tín dụng.