Chương 1: Cơ sở lý luận về Xếp hạng tín dụng cá nhân Chương 2: Thực trạng về Hệ thống Xếp hạng tín dụng của Ngân hàng TMCP Quân Đội. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Chương 3: Đề xuất mô hình định lƣợng Xếp hạng tín dụng cá nhân và một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống Xếp hạng tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Quân Đội. Phần Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN 1. Khái niệm chung về xếp hạng tín dụng 1.
Khái niệm về xếp hạng tín dụng Hoạt động XHTD đã có từ rất lâu trong giao dịch thƣơng mại quốc tế. Năm 1841, Lewis Tappan – nhà buôn lụa ngƣời Mỹ đã tập hợp đƣợc nhiều lá thƣ giới thiệu từ những ngƣời buôn bán có tiếng tăm và ông đã thống kê ghi chép lại khá nhiều những đánh giá về mức độ tín nhiệm của các thƣơng gia có giao dịch. Từ đó, ông quyết định đổi sang nghề cung cấp thông tin thƣơng mại bằng việc lập ra công ty Mercantile A.Glucy chuyên thực hiện dịch vụ bán các thông tin về tình hình kinh doanh, về mức độ tín nhiệm của nhiều công ty tại Mỹ. Đến năm 1909, thuật ngữ “Xếp hạng tín dụng” (Credit rating) lần đầu tiên đƣợc đƣa ra bởi John Moody trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đƣờng sắt” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng đầu tiên cho 1.500 trái phiếu của 250 công ty trên thị trƣờng chứng khoán Mỹ.
Nhƣ vậy, XHTD đã có từ khá lâu và hiện nay đƣợc sử dụng rất phổ biến nhƣng khái niệm XHTD lại đƣợc nhìn nhận dƣới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên các khái niệm đều có điểm chung “Xếp hạng tín dụng là các ý kiến đánh giá về chất lƣợng tín dụng và sự sẵn sàng thanh toán các nghĩa vụ tài chính (gốc và lãi) của một đối tƣợng xếp hạng một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống phân loại theo ký hiệu đã đƣợc xác định trƣớc trong suốt thời gian tồn tại của đối tƣợng xếp hạng đó”. Đối tƣợng của xếp hạng tín dụng Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các NHTM, các cơ quan của NHNN, các nhà đầu tƣ, các tổ chức nghiên cứu thị trƣờng, các tổ chức tín dụng và tài chính khác chính là những đối tƣợng thực hiện và sử dụng kết quả XHTD. XHTD có thể được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau: Thứ nhất, XHTD cá nhân, đây là hình thức xếp hạng đƣợc áp dụng đối với các KH cá nhân tham gia vào hoạt động tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại.
Việc XHTD cá nhân đƣợc thực hiện dựa trên những yếu tố đặc điểm của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 mỗi cá nhân (nhƣ tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, số con cái.), yếu tố tài chính của cá nhân (nhƣ thu nhập, tiết kiệm hằng tháng, số lƣợng và loại tài sản đảm bảo mà cá nhân đó đang sở hữu, những khoản thanh toán chậm hoặc nợ quá hạn…) và các yếu tố về hành vi cá nhân (nhƣ lịch sử vay – trả nợ, số lần trễ hẹn thanh toán, tính trung thực và hợp tác. Tất cả những thông tin đó đều đƣợc thu thập và tổng hợp trong các hồ sơ XHTD về cá nhân đó. Thứ hai, XHTD doanh nghiệp, đây là hình thức tập trung vào đối tƣợng xếp hạng là các doanh nghiệp. Việc XHTD doanh nghiệp đƣợc thực hiện thƣờng dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp để đánh giá.
Thông thƣờng, các tổ chức tài chính, NHTM, công ty chứng khoán, các tổ chức nghiên cứu và ngay cả một vài cơ quan của NHNN (nhƣ CIC) cũng xây dựng hệ thống XHTD doanh nghiêp cho mình. Thứ ba, XHTD quốc gia, loại hình XHTD này đánh giá mức độ tin cậy của một quốc gia, để từ đó có thể so sánh môi trƣờng đầu tƣ giữa các quốc gia. Quốc gia nào càng đƣợc XHTD cao thì càng nhận đƣợc sự tín nhiệm của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài nên sẽ thu hút đƣợc nhiều nguồn vốn đầu tƣ. Việc XHTD các quốc gia dựa trên các chỉ số phát triển chung nhƣ: chỉ số phát triển các ngành, chỉ số an toàn vốn đầu tƣ, tốc độ tăng trƣởng kinh tế của quốc gia, mức độ bình ổn chính trị… Thứ tƣ, XHTD các công cụ đầu tƣ, các công cụ đƣợc xếp hạng chủ yếu vẫn là các công cụ nhƣ: trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ và các loại trái phiếu, kì phiếu của ngân hàng.
Ở một số nƣớc và một số tổ chức XHTD hiện này còn XHTD cả cổ phiếu ƣu đãi, cổ phiếu thƣởng… Việc XHTD đối với các loại công cụ đầu tƣ đƣợc thực hiện dựa trên một số chỉ tiêu nhƣ: khả năng thanh khoản, kì hạn, lãi suất, mệnh giá, các rủi ro có thể gặp phải… Ở nƣớc ta hiện nay mới chỉ tập trung xếp hạng các doanh nghiệp tham gia hoạt động tín dụng ở các NHTM, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán, chƣa có nhiều sản phẩm, công cụ đầu tƣ,… nên việc XHTD các công cụ đầu tƣ là chƣa đƣợc chú ý. Xếp hạng quốc gia thì TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 chúng ta chƣa có khả năng thực hiện mà chỉ dành cho những tổ chức xếp hạng lớn nhƣ Moody’s, Stand & Poor hay Fitch,… xếp hạng. XHTD cá nhân thì do việc thu thập và tìm kiếm thông tin đối với những đối tƣợng này khá phức tạp và khó kiểm soát, nên việc XHTD cá nhân vẫn chƣa tiến hành phổ biến. Đặc điểm của xếp hạng tín dụng Thứ nhất, XHTD đƣợc tiến hành dựa trên những thông tin thu thập đƣợc từ những đối tƣợng đƣợc XHTD, và những nguồn thông tin đƣợc coi là đáng tin cậy.
Thứ hai, XHTD không phải là một sự giới thiệu để mua hay bán một đối tƣợng nào đó, mà XHTD chỉ thực hiện chức năng độc lập là đánh giá mức độ rủi ro tín dụng hay mức độ tín nhiệm của một đối tƣợng đƣợc xếp hạng. Thứ ba, kết quả XHTD chỉ là một tiêu chí phục vụ cho quá trình đƣa ra các quyết định và có giá trị trong một khoảng thời gian nhất định. Nhƣ vậy, XHTD là một nhân tố quan trọng, nhƣng không thể thay thế hoàn toàn cho việc thuyết minh về tính đáng tin cậy của đối tƣợng đƣợc XHTD. Cơ sở của xếp hạng tín dụng Theo Vƣơng Quân Hoàng và cộng sự (2006), một hệ thống XHTD cá nhân dựa trên cơ sở là việc giải đáp 4 vấn đề cơ bản theo thứ tự sau: Xác định các dấu hiệu nên đưa vào để lấy thông tin về khách hàng, nên hay không nên đưa vào dấu hiệu nào? Yêu cầu đầu tiên đặt ra về các dấu hiệu đƣợc đƣa vào phải không tƣơng quan với nhau.
Tiếp theo là yêu cầu đƣa vào các dấu hiệu sao cho đặc trƣng đƣợc nhiều nhất nhƣ các dấu hiệu đó giúp KH dễ trả lời, ngân hàng dễ chứng thực tính đúng đắn. Xây dựng thang điểm cho các dấu hiệu. Từng dấu hiệu của mỗi KH sẽ đƣợc so sánh với thang điểm hoặc phân loại theo thang điểm để đƣa vào mô hình hay bảng chấm điểm tín dụng. Xác định trọng số (hay tham số) cho mỗi dấu hiệu, trọng số này đặc trưng cho tầm quan trọng của dấu hiệu đó đối với khả năng thanh toán của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 khách hàng.
Xây dựng mô hình ra quyết định tín dụng dựa trên hàm điểm tín dụng Từ điểm tín dụng của mỗi KH, đƣợc tính ra từ hàm điểm tín dụng, chúng ta tiến hành phân loại (xếp hạng) tín nhiệm KH đó. Trong các vấn đề đƣợc đặt ra ở trên có thể nói vấn đề (3) và (4) là quan trọng nhất và cũng phức tạp nhất. Vai trò của xếp hạng tín dụng cá nhân 1. Đối với ngân hàng thƣơng mại Hạn chế rủi ro tín dụng và những rủi ro khác của ngân hàng.
Hỗ trợ ra quyết định cấp tín dụng: xác định hạn mức tín dụng, thời hạn, mức lãi suất, biện pháp bảo đảm tiền vay,… Giám sát và đánh giá KH, khi khoản tín dụng đang còn dƣ nợ. Thứ hạng KH cho phép ngân hàng dự báo chất lƣợng tín dụng và có những biện pháp đối phó kịp thời. Xác định các bƣớc đảm bảo đơn giản hoá thủ tục cho vay của ngân hàng, tối thiểu hóa chi phí xử lý và giao dịch với KH. Cải thiện tình trạng trích lập dự phòng của ngân hàng (phù hợp với tài sản đảm bảo).
Ngoài ra, khi xét trên góc độ quản lý toàn bộ danh mục đầu tƣ, hệ thống xếp hạng tín dụng còn giúp: - Phát triển chiến lƣợc Marketing nhằm hƣớng tới các KH có ít rủi ro và phát hiện KH tiềm năng. - Ƣớc lƣợng mức vốn đã cho vay sẽ không thu hồi đƣợc để trích lập dự phòng tổn thất tín dụng. Hệ thống xếp hạng giúp cho việc nâng cao chất lƣợng quản trị rủi ro NH, tăng khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, cần lƣu ý rằng hệ thống XHTD chỉ là công cụ hỗ trợ cho quyết định tín dụng chứ không thay thế phƣơng pháp xét duyệt tín dụng truyền thống vì hệ thống này không thể dự đoán thiệt hại của NH đối với một khoản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 vay trên các khía cạnh cụ thể nhƣ khi nào, thời điểm nào KH có khả năng không trả đƣợc nợ, số nợ gốc, lãi không trả đƣợc là bao nhiêu… 1.
Đối với khách hàng cá nhân Hệ thống XHTD là cơ sở để xây dựng chính sách KH phù hợp với từng nhóm KH với các mức rủi ro khác nhau: Nhóm rủi ro thấp: Cho vay với chính sách ƣu đãi. Nhóm rủi ro trung bình: Cho vay với điều kiện bình thƣờng. Nhóm rủi ro cao: Có thể không cho vay, hoặc cho vay nhƣng áp dụng lãi suất cao hay cho vay với những điều kiện khắt khe hơn.6 Quy trình của hệ thống xếp hạng tín dụng Trên cơ sở tham khảo và rút kinh nghiệm của các quy trình XHTD đã đƣợc công bố trên thế giới, trình tự cơ bản của XHTD đƣợc tổng hợp theo Hình 1. Nhƣ vậy, khi tiến hành XHTD cần thiết lập một quy trình phù hợp với những đặc điểm cụ thể của mỗi quốc gia và đối tƣợng đƣợc xếp hạng cũng nhƣ tuân thủ quy trình đó.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Bƣớc 1: Thu thập thông tin từ các nguồn: - Hồ sơ do khách hàng cung cấp. - Nguồn lƣu trữ của Ngân hàng. - Phỏng vấn trực tiếp KH. - Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN.