Chương 1: Tổng quan về xếp hạng tín dụng tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hệ thống xếp hạng tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Đề tài nghiên cứu và phân tích hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của Agribank; so sánh với các chuẩn mực quốc tế, các quy định của Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại khác để từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng của Agribank, nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Tín dụng và rủi ro tín dụng 1. Khái niệm tín dụng Thuật ngữ “Tín dụng” khó đưa ra một định nghĩa chung. Tuy nhiên nếu xét ở góc độ ngân hàng, mà cụ thể là chức năng của nó, thì tín dụng được hiểu : Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Rủi ro tín dụng Theo Ủy ban Basel (thuộc Ngân hàng Thanh toán quốc tế) thì: rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết.
Rủi ro thất thoát đối với một ngân hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả nợ và lãi. Theo Thông tư số 02/2013/TT–NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Theo nghiên cứu của KPMG khảo sát về ngành ngân hàng Việt Nam năm 2013, yếu tố tạo nên rủi ro tín dụng ngân hàng gồm 2 yếu tố : Yếu tố bên ngoài và yếu tố nội bộ.1: Yếu tố tạo nên rủi ro tín dụng trong Ngân hàng Yếu tố bên ngoài Yếu tố nội tại Yếu tố kinh tế vĩ mô Mô hình tín dụng không được thiết kế chặt chẽ Môi trường pháp lý Danh mục đầu tư tập trung Gian lận Gian lận Môi trường hoạt động Thiếu kiểm soát tín dụng Quy trình giám sát không đầy đủ Thất bại trong quá trình rà soát tín dụng Nguồn: KPMG Việt Nam Giai đoạn vừa qua và hiện tại, hệ thống ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách do tác động theo chiều hướng xấu từ yếu tố bên ngoài lẫn những yếu kém của yếu tố nội tại, tích tụ qua thời gian nay mới thực sự bộc phát. Ta thấy rằng, cả yếu tố bên ngoài và yếu tố nội tại đều có thành phần là yếu tố “gian lận”.
Đây là yếu tố liên quan tới con người, tới vấn đề đạo đức trong nghề nghiệp. Và là nguyên nhân gây ra rủi ro lớn nhất cho hệ thống ngân hàng của Việt Nam giai đoạn vừa qua. Tổng quan về xếp hạng tín dụng và hệ thống xếp hạng tín dụng 1. Khái niệm về xếp hạng tín dụng Xếp hạng tín dụng (XHTD) là một trong những công cụ quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả mà các ngân hàng thương mại (NHTM) đã và đang áp dụng khi cấp tín dụng cho khách hàng.
Tùy thuộc vào mỗi ngân hàng mà thuật ngữ “credit ratings” có tên gọi khác nhau. Có ngân hàng gọi là “xếp hạng tín dụng nội bộ”, có ngân hàng gọi là “chấm điểm tín dụng”, có ngân hàng gọi là “xếp hạng tín nhiệm”… nhưng bản chất đều nhằm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 đánh giá mức độ tín nhiệm, khả năng trả nợ trong tương lai của khách hàng dựa trên hệ thống xếp hạng. Như vậy, XHTD khách hàng vay vốn là việc NHTM đánh giá năng lực tài chính, tình hình hoạt động hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai của khách hàng được xếp hạng, qua đó xác định mức độ rủi ro không trả được nợ và khả năng trả nợ trong tương lai. Hệ thống xếp hạng tín dụng Theo Thông tư 02: Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là hệ thống gồm các bộ chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, các quy trình đánh giá khách hàng trên cơ sở định tính và định lượng về mặt tài chính, tình hình kinh doanh, quản trị, uy tín của khách hàng.
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phải được xây dựng cho từng đối tượng khách hàng khác nhau, kể cả các đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng và những người có liên quan của đối tượng này. Đối tƣợng của xếp hạng tín dụng Đối tượng của XHTD bao gồm thông số, dữ liệu của khách hàng tham gia vay vốn tại các NHTM như: các thông tin tài chính từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp, các thông tin phi tài chính (kinh nghiệm của ban quản lý, môi trường kiểm soát nội bộ, sự phụ thuộc vào các đối tác…), các thông tin về nhân thân khách hàng vay, thông tin về khả năng trả nợ… Các NHTM không sử dụng kết quả XHTD nhằm thể hiện giá trị của người đi vay mà chỉ là đưa ra ý kiến hiện tại dựa trên các nhân tố rủi ro, từ đó có chính sách tín dụng và giới hạn cho vay phù hợp. Xếp hạng cao của khách hàng đi vay chưa thể hiện việc có thể thu hồi đầy đủ các khoản nợ gốc và lãi vay mà chỉ là cơ sở để đưa ra quyết định đúng đắn về tín dụng đã được điều chỉnh theo dự kiến mức độ rủi ro tín dụng có liên quan đến khách hàng là người đi vay và tất cả các khoản vay của khách hàng đó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Xếp hạng người đi vay chủ yếu dự báo mức độ rủi ro mà ngân hàng sẽ gặp phải khi quyết định cấp tín dụng.
Cơ sở của việc xác định mức độ này dựa trên các thông tin trong quá khứ, hiện tại và đánh giá khả năng trong tương lai. Các thông tin đánh giá khách hàng bao gồm: - Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng. - Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính thì tuỳ vào ngân hàng, có thể liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu và khả năng tăng trưởng của ngành… - Nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các dấu hiệu không trả được nợ, tình hình số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi. Xếp hạng khoản vay dựa trên cơ sở xếp hạng người vay và các yếu tố bao gồm tài sản đảm bảo, thời hạn cho vay, tổng mức dư nợ tại các tổ chức tín dụng, năng lực tài chính.
Rủi ro của khoản vay được đo lường bằng xác suất rủi ro dự kiến. Các phƣơng pháp xếp hạng tín dụng Có hai phương pháp để xếp hạng là phương pháp chuyên gia, phương pháp mô hình toán học. Các tổ chức xếp hạng có thể sử dụng một trong hai phương pháp hoặc kết hợp cả hai để xếp hạng tín dụng (Kết hợp cả phương pháp chuyên gia và phương pháp mô hình toán học). - Phương pháp chuyên gia1: một đội ngũ chuyên gia sẽ đánh giá khả năng thanh toán nợ của đối tượng xếp hạng.
Thông qua các thông tin thu thập trong các báo cáo của doanh nghiệp, thông tin thị trường, thông tin phỏng vấn và thảo luận với người có liên quan, đội ngũ chuyên gia đánh giá tình trạng tài chính, hoạt động kinh doanh, chính sách và chiến lược quản trị rủi ro của khách hàng, từ đó đưa ra mức phân loại tín dụng cuối cùng. 1 Phương pháp chuyên gia: Analyst Driven Ratings TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 - Mô hình toán học xếp hạng tín dụng2: mô hình chỉ tập trung vào các dữ liệu định lượng kết hợp trong mô hình toán học để đánh giá chất lượng tài sản, khả năng sinh lợi, khả năng trả nợ của đối tượng xếp hạng dựa trên các báo cáo tài chính được công bố là chủ yếu kèm theo các điều chỉnh kế toán phù hợp. Với mức độ rủi ro ngày càng tăng và càng phức tạp thì năm 2004, Hiệp ước Basel II ra đời để khắc phục những hạn chế của Basel I. Để xác định mức rủi ro tín dụng, Basel II đưa ra ba phương pháp: phương pháp tiếp cận chuẩn hóa (SA) 3, hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cơ bản (F-IRB)4 và hệ thống xếp hạng tín dụng bội bộ nâng cao (A-IRB)5.
- Theo phương pháp XHTD cơ bản với khách hàng tổ chức, các TCTD ước lượng xác suất vỡ nợ (Probability of Default - PD) cho mỗi mức XHTD của khách hàng, các tham số tổn thất vỡ nợ (Loss Given at Default - LGD), rủi ro vỡ nợ (Exposure at Default - EAD) và kỳ đáo hạn hiệu dụng (M) được ước lượng bởi cơ quan quản lý, giám sát (Ngân hàng Trung ương). - Theo phương pháp XHTD tiên tiến với khách hàng tổ chức, các TCTD ước lượng các tham số PD cho mỗi mức XHTD của khách hàng, LGD cho mỗi mức xếp hạng của hợp đồng, EAD cho mỗi loại hợp đồng vay và tính toán M theo hướng dẫn của cơ quan quản lý, giám sát. Đối với khách hàng cá nhân, các tham số rủi ro PD, LGD và EAD được các TCTD ước lượng theo từng rổ khách hàng. Hiện nay do các hạn chế nhất định mà các ngân hàng thương mại Việt Nam đang tiến hành phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro dựa trên phương pháp tiếp cận chuẩn hóa và F-IRB.
Trong khi xu hướng của các tổ chức xếp hạng trên thế giới là kết hợp giữa các phương pháp trong đó trọng tâm là : F-IRB và A-IRB.