CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ: 1.1 Những vấn đề cơ bản về kiểm soát nội bộ: 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ: Khái niệm Kiểm soát nội bộ xuất hiện đầu thế kỷ XX, trong các tài liệu về kiểm toán với ý nghĩa rất đơn giản: các biện pháp nhằm bảo vệ tiền không bị nhân viên biển thủ. Sau đó, khái niệm này được mở rộng và đề cập chính thức trong Federal Reserve Bulletin năm 1929, người ta cho rằng KSNB không dừng lại ở việc bảo vệ tài sản mà còn đảm bảo việc ghi chép kế toán chính xác, nâng cao hiệu quả hoạt động và khuyến khích tuân thủ các chính sách của nhà quản lý. Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ tại Hoa kỳ đã xuất bản một loạt báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu kiểm soát nội bộ trong các cuộc kiểm toán. Đến giữa thập niên 1970, kiểm soát nội bộ được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống kiểm soát nội bộ và vận dụng trong các cuộc kiểm toán.
Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài 1977 được ban hành, các báo cáo của Cohen Commission và Hiệp hội các nhà quản trị tài chính FEI 1 đều đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ. 1 Financial Excecutives Institute – Viết tắt FEI 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1979 Ủy ban chứng khoán Hoa kỳ (SEC) 2 đưa ra các điều luật bắt buộc các nhà quản trị phải báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức. Cũng trong năm này, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) 3 đã thành lập một ủy ban tư vấn đặc biệt về kiểm soát nội bộ nhằm đưa ra các hướng dẫn về việc thiết lập và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Từ năm 1980 đến 1985, trước sự sụp đổ của các công ty cổ phần có niêm yết thì KSNB được quan tâm nhiều hơn.
Các chuẩn mực kiểm toán liên quan đến kiểm soát nội bộ được phát triển và sàng lọc thông qua các ban hành và sửa đổi như: • Năm 1980, Hiệp hội Kiểm toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã ban hành chuẩn mực về đánh giá KSNB của kiểm toán viên độc lập. • Năm 1982, AICPA ban hành và sửa đổi hướng dẫn về trách nhiệm của kiểm toán viên độc lập trong việc nghiên cứu và đánh giá KSNB khi kiểm toán báo cáo tài chính. Từ năm 1985 trở đi, sự quan tâm tập trung vào kiểm soát nội bộ với cường độ mạnh mẽ hơn. Năm 1985 Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính còn gọi là Ủy ban Treadway (National Commission of Financial Reporting hay còn gọi là Treadway Commission) được thành lập nhằm khảo sát các nguyên nhân dẫn đến việc gian lận báo cáo tài chính và tìm cách khắc phục.
Cũng từ đó Ủy ban các tổ chức đồng bảo trợ -COSO 4 của Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính được thành lập nhằm nghiên cứu về KSNB: • Thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau. • Cung cấp đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể đánh giá hệ thống KSNB để tìm giải pháp hoàn thiện. 2 Securities and Exchange Commission – Viết tắt SEC 3 American Institite of Certified Public Accountants – Viết tắt AICPA 4 Committee of Sponsoring organizations – Viết tắt COSO 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến năm 1992, sau quá trình xây dựng, hoàn chỉnh lý luận về KSNB, Báo cáo của COSO được công bố dưới tiêu đề: Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất ( Internal Control – Integrated Framework). Báo cáo chưa thật sự hoàn chỉnh nhưng đã tạo lập cơ sở lý thuyết rất cơ bản về KSNB.
Nội dung của báo cáo này đề cập đến các vấn đề sau: • Phần 1 – Bản tóm lược: Tổng quan về KSNB cho nhà quản lý cấp cao. • Phần 2 – Hệ thống lý luận: Định nghĩa về KSNB, mô tả các yếu tố của KSNB và chỉ ra những tiêu chí để kiểm soát hệ thống. • Phần 3 – Báo cáo cho các thành phần bên ngoài: Hướng dẫn cách thức báo cáo cho các đối tượng bên ngoài về KSNB liên quan đến tài chính. • Phần 4 – Các công cụ đánh giá: Bao gồm các bảng biểu phục vụ cho việc đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống KSNB Trên cơ sở báo cáo COSO hàng loạt các nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời như: 5 • Phát triển theo hướng quản trị: năm 2001 COSO tiếp tục triển khai nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp trên cơ sở báo cáo COSO.
• Phát triển theo hướng công nghệ thông tin: năm 1996, báo cáo COBIT nhấn mạnh kiểm soát trong môi trường máy tính. • Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: báo cáo Basle 1998 của Ủy ban Basle các Ngân hàng trung ương đã công bố khuôn khổ KSNB trong ngân hàng. Báo cáo Basle không đưa ra những lý luận mới mà là sự vận dụng các lý luận cơ bản của COSO. • Phát triển theo hướng quốc gia: nhiều quốc gia trên thế giới có khuynh hướng xây dựng khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB điển hình báo cáo COSO 1995 5 Tổng quan về kiểm soát nội bộ – TS.
Vũ Hữu Đức 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Canada, báo cáo Turnbull 1999 của Anh. Các báo cáo này không có sự khác biệt lớn so với báo cáo COSO năm 1992.2 Định nghĩa kiểm soát nội bộ: Báo cáo COSO định nghĩa: “ KSNB là một quá trình bị chi phối bởi Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: • Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động. • Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính. • Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định” 6 1.3 Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ: Theo báo cáo COSO thì một hệ thống KSNB bao gồm năm bộ phận: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát.
Các bộ phận này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Môi trường kiểm soát: Tạo ra sắc thái chung trong đơn vị, chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị. Và là nền tảng cho các thành phần khác của hệ thống KSNB bao gồm cơ cấu tổ chức, cơ chế phân cấp, phân quyền, các chính sách, thông lệ và nguồn nhân lực, đạo đức nghề nghiệp, năng lực, cách thức quản trị, điều hành của các cấp lãnh đạo. Đánh giá rủi ro: Mỗi đơn vị phải ý thức và đối phó với rủi ro mà mình gặp phải.
Đánh giá rủi ro bao gồm quá trình nhận dạng và phân tích các rủi ro đối với việc hoàn thành các mục tiêu của tổ chức tín dụng. Nó bao gồm việc xác định mục tiêu của đơn vị, nhận dạng 6 Kiểm toán, Đại học kinh tế TP.HCM – Nhà xuất bản thống kê, năm 2004 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rủi ro, phân tích và đánh giá rủi ro. Trên cơ sở nhận dạng và phân tích rủi ro, các nhà quản lý sẽ xác định rủi ro nên được xử lý như thế nào: • Nhận dạng rủi ro: rủi ro có thể tác động đến tổ chức ở mức độ toàn đơn vị hay chỉ ảnh hưởng đến từng hoạt động cụ thể. Để nhận dạng rủi ro, người quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp như sử dụng các phương tiện dự báo, phân tích dữ liệu quá khứ, cho đến việc rà soát thường xuyên các hoạt động.
• Phân tích và đánh giá rủi ro: phân tích và đánh giá rủi ro là đánh giá tầm quan trọng của rủi ro, tác hại rủi ro gây ra, khả năng xảy ra rủi ro và các biện pháp có thể để đối phó rủi ro. Rủi ro rất khó định lượng, đây là công việc khá phức tạp và có nhiều phương pháp khác nhau. Tuy nhiên cần phải đánh giá rủi ro một cách có hệ thống, xây dựng tiêu chí đánh giá rủi ro, sắp xếp thứ tự ưu tiên của rủi ro dựa vào đó nhà quản lý sẽ phân bổ nguồn lực để đối phó rủi ro. Hoạt động kiểm soát: Là những chính sách và thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện.
Hoạt động kiểm soát diễn ra trong toàn đơn vị ở mọi cấp độ và mọi hoạt động. Có nhiều hoạt động kiểm soát khác nhau như phân chia trách nhiệm đầy đủ, kiểm soát quá trình xử lý thông tin và các nghiệp vụ, kiểm soát vật chất, kiểm tra độc lập việc thực hiện, phân tích soát xét lại việc thực hiện. Thông tin truyền thông: Các thông tin cần thiết phải đựơc nhận dạng, thu thập và trao đổi trong đơn vị dưới hình thức và thời gian thích hợp sao cho nó giúp mọi người trong đơn vị thực hiện được nhiệm vụ của mình. Thông tin và truyền thông tạo ra báo cáo, chứa đựng các thông tin cần thiết cho việc quản lý và kiểm soát đơn vị.
Sự trao đổi thông tin hữu hiệu đòi hỏi phải diễn ra theo chiều hướng: từ cấp trên đến cấp dưới, từ dưới lên trên và giữa các cấp với nhau. Mỗi cá nhân cần hiểu rõ vai trò của mình trong hệ thống KSNB 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng như hoạt động của cá nhân có tác động đến công việc của người khác như thế nào. Ngoài ra cũng cần có sự trao đổi hữu hiệu giữa các đơn vị với các đối tượng bên ngoài như khách hàng, nhà cung cấp, cổ đông và các cơ quan quản lý. Giám sát: Là quá trình đánh giá chất lượng của hệ thống KSNB, những khiếm khuyết của hệ thống KSNB cần được báo cáo lên cấp trên và điều chỉnh lại khi cần thiết.
Việc này được thực hiện thông qua việc đánh giá thường xuyên, riêng lẻ hay kết hợp hai hình thức.