Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu 8 Chương 2: Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thƣơng mại. Chương 3: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Vietinbank Hoàng Mai. Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Vietinbank Hoàng Mai. 9 CHƢƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.
Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ 2. Bản chất hệ thống kiểm soát nội bộ Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (2009), KSNB đƣợc hiểu là “một quá trình được thiết kế và chịu sự chi phối của các nhà quản lý và các nhân viên trong một tổ chức nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu lien quan đến độ tin cậy của BCTC, hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý và tuân thủ các quy định, luật lệ”. Cũng theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 315 (ISA 315), KSNB bao gồm: Môi trường kiểm soát, quá trình đánh giá rủi ro, thông tin và truyền thông, các hoạt động kiểm soát và giám sát. ISA 315 đã có những thay đổi tích cực nhằm nâng cao chất lƣợng kiểm toán thông qua thay đổi quan điểm cũng nhƣ cách thức tiếp cận HTKSNB, mở rộng quan điểm về môi trƣờng kinh doanh và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của thủ tục phân tích trong quá trình thu thập thông tin, để sớm phát hiện ra những rủi ro có khả năng tồn tại trong BCTC.
Theo văn bản hƣớng dẫn kiểm toán quốc tế số 6 của Hội đồng liên hiệp các nhà kế toán Malaysia (MACPA), hệ thống KSNB là cơ cấu tổ chức cộng với những biện pháp, thủ tục do Ban quản trị của một tổ chức thực thể chấp nhận, nhằm hỗ trợ thực thi mục tiêu của Ban quản trị đảm bảo tăng khả năng thực tiễn tiến hành kinh doanh trong trật tự và có hiệu quả, bao gồm tuyệt đối tuân thủ đường lối của Ban quản trị, bảo vệ tài sản, ngăn chặn và phát hiện gian lận, sai lầm, đảm bảo tính chính xác, toàn diện số liệu hạch toán xử lý kịp thời và đáng tin cậy số liệu thông tin tài chính. 10 Theo COSO (2016), KSNB là một quá trình do con ngƣời quản lý, hội đồng quản trị và các nhãn viên của đơn vị chi phối, nó đƣợc thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, nhằm cho báo cáo tài chính đáng tin cậy, các luật lệ và quy định đƣợc tuân thủ, hoạt động hữu hiệu và hiệu quả. Qua các quan điểm về KSNB nêu trên thì KSNB quả là rất cần thiết trong bất cứ thực thể kinh tế nào, trong đó bao gồm cả ngân hàng. KSNB có những nội dung chính sau: - Một là, KSNB là một quá trình, KSNB không phải là một tình huống hay một sự kiện.
Nó là cả một chuỗi các hoạt động đƣợc thực hiện ở toàn doanh nghiệp. Kiểm soát luôn tồn tại và đƣợc thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình hoạt động, quá trình quản lý. Kiểm soát tồn tại trong suốt quá trình quản lý. Kiểm soát đƣợc thực hiện trƣớc, trong và sau mỗi hoạt động định hƣớng hoặc tổ chức để thực hiện hoặc điều chỉnh mỗi hoạt động đó.
- Hai là, KSNB bị chi phối bởi con ngƣời trong đơn vị. Những ngƣời có khả năng chi phối KSNB đó là Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên. Các mục tiêu cùng với những cơ chế kiểm soát đều do chính con ngƣời đặt ra. Bên cạnh đó thì KSNB có thể tác động lại vào hành vi của con ngƣời.
Khi bắt tay vào công việc mỗi cá nhân có khả năng, cách thức, lối suy nghĩ và hành động khác nhau, KSNB sẽ tạo ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân, từ đó hƣớng các hoạt động của mọi ngƣời đến mục tiêu chung của đơn vị. - Ba là, KSNB đảm bảo hợp lý. KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý để hƣớng đến việc đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị. Nhƣ vậy, trên các phƣơng diện tiếp cận thì KSNB đƣợc diễn đạt khác nhau, xong bản chất của HTKSNB là hệ thống những quy định tài chính và quy định phi tài chính do các nhà quản lý lập ra để điều hành và quản lý toàn bộ hoạt động của toàn doanh nghiệp theo một cách có trình tự và hiệu quả, đảm bảo tuân thủ pháp luật.
11 Mục tiêu của HTKSNB Với bản chất trên, HTKSNB đƣợc thiết kế và vận hành theo các mục tiêu sau: Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động: Quá trình kiểm soát tại các công đoạn, gây ra sự lãng phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh và sử dụng kèm hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp. Với ngân hàng có loại hình kinh doanh đặc thù riêng về tiền tệ, dễ xảy ra rủi ro gây tác hại đến ngân hàng, ảnh hƣởng đến nền kinh tế quốc gia, vì vậy nhà quản lý đặt ra yêu cầu kiểm soát để tránh rủi ro, sử dụng vốn huy động hiệu quả, tăng hiệu quả kinh doanh. Bên cạnh đó, định kỳ các nhà quản lý thƣờng đánh giá kết quả hoạt động kèm với cơ chế giám sát của HTKSNB nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành của bộ máy quản lý tại đơn vị. Mục tiêu về sự tin cậy của BCTC: Thông tin BCTC do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định của các nhà quản lý.
Nhờ có HTKSNB hữu hiệu, hệ thống thông tin quản lý, thông tin BCTC luôn đảm bảo trung thực, hợp lý, đầy đủ, minh bạch, kịp thời và đƣợc bảo mật theo đúng quy định của pháp luật. Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định: Các quy trình đƣợc thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để. Đảm bảo các quyết định và chế độ quản lý đƣa ra trên cơ sở đã đƣợc các cơ quan quản lý có thẩm quyền ban hành, đƣợc thực hiện đúng thể thức và giám sát mức độ hiệu quả cũng nhƣ tính hợp lý của các chế độ. Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác cũng nhƣ việc lập BCTC trung thực và khách quan.
Các yêu cầu và nguyên tắc hoạt động của HTKSNB trong NHTM: Theo nhƣ Báo cáo Basel (1998), HTKSNB trong ngân hàng về cơ bản gồm các nguyên tắc sau: - Giám sát điều hành và văn hoá kiểm soát: Hội đồng quản trị (HĐQT) có trách nhiệm xét duyệt, kiểm tra chiến lƣợc kinh doanh, chính sách của 12 ngân hàng, hiểu những rủi ro trọng yếu của ngân hàng. Ban điều hành chịu trách nhiệm thực hiện chiến lƣợc của HĐQT, có sự phân công trách nhiệm rõ ràng trách nhiệm giữa các bộ phận. Làm cho nhân viên hiểu rõ tầm quan trọng của kiểm soát. - Nhận biết và đánh giá rủi ro: Xác định, đánh giá những rủi ro trọng yếu nhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản.ảnh hƣởng đến việc thực hiện kế hoạch của ngân hàng.
- Hoạt động kiểm soát, phân công phân nhiệm: Hoạt động kiểm soát diễn ra hàng ngày tại ngân hàng. Phân công hợp lý công việc. - Thông tin truyền thông: Thông tin tin cậy, kịp thời, sử dụng dữ liệu bằng máy tính an toàn, bảo mật. - Giám sát và sửa chữa sai phạm trọng yếu: Hiệu quả của HTKSNB là việc theo dõi và kiểm tra liên tục.
Những sai phạm trọng yếu phải đƣợc báo cáo kịp thời đến Ban điều hành và HĐQT. Đánh giá HTKSNB thông qua cơ quan thanh tra ngân hàng: Ngân hàng phải có HTKSNB phù hợp với sự thay đổi của môi trƣờng kinh doanh. Các yếu tố cấu thành KSNB đƣợc nghiên cứu và thiết kế trên 5 yếu tố: Môi trƣờng kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Các hoạt động kiểm soát; Hệ thống thông tin và truyền thông và giám sát. Thứ nhất, Môi trường kiểm soát Môi trƣờng kiểm soát đƣợc thiết lập trong nội bộ tổ chức và có ảnh hƣởng đến nhận thức kiểm soát của tất cả các nhân viên trong ngân hàng.
Cũng có thể hiểu, môi trƣờng kiểm soát là những nhân tố của đơn vị ảnh hƣởng đến hoạt động của HTKSNB và là các yếu tố tạo môi trƣờng trong đó toàn bộ thành viên của ngân hàng nhận thức đƣợc tầm quan trọng của KSNB. 13 Môi trƣờng kiểm soát tạo ra sắc thái chung trong ngân hàng, nơi mỗi ngƣời thực hiện nghĩa vụ kiểm soát của mình. Môi trƣờng kiểm soát gồm môi trƣờng bên trong và môi trƣờng bên ngoài ngân hàng, có tính môi trƣờng tác động đến việc thiết kế, hoạt động, xây dựng và tổ chức kiểm soát thực hiện các chính sách, chế độ, quy định của ngân hàng. Các nhân tố của môi trƣờng kiểm soát thể hiện thái độ, quan điểm, nhận thức cũng nhƣ hành động của các nhà quản lý trong ngân hàng.
Tại đơn vị, hoạt động kiểm tra kiểm soát có hiệu quả hay không chủ yếu phụ thuộc vào quan điểm quản lý của ngân hàng đó. Khi có quan điểm coi trọng hay không coi trọng công tác kiểm tra, KSNB của nhà quản lý thì sẽ kéo theo việc nhận thức và thực hiện của các thành viên trong ngân hàng tuân thủ mọi nội quy, quy định, chế độ đƣợc đề ra. Trái lại, nếu công tác KSNB không đƣợc các nhà quản lý coi trọng thì các cơ chế của KSNB sẽ hoạt động không đƣợc hiệu quả bởi thành viên của ngân hàng. Các nhân tố của môi trường kiểm soát bao gồm: + Đặc thù về quản lý là các quan điểm khác nhau của c ác nhà quản lý đơn vị đối với BCTC cũng nhƣ đối với rủi ro kinh doanh, với việc điều hành hoạt động đơn vị.
Nếu nhà quản lý có quan điểm kinh doanh trung thực cộng với sự cạnh tranh lành mạnh thì các nhà quản lý này sẽ có xu hƣớng coi trọng tính trung thực của BCTC, đồng thời có những biện pháp để hạn chế tối đa rủi ro kinh doanh. Môi trƣờng quản lý sẽ mạnh do ý muốn thiết lập các thủ tục kiểm soát chặt chẽ để thực hiện các mục tiêu đã đề ra của các nhà quản lý. Ngƣợc lại, nếu nhà quản lý có suy nghĩ, hành vi hoạt động gian lận, không lành mạnh thì BCTC sẽ có sai phạm, từ đó môi trƣờng kiểm soát sẽ không mạnh và yếu kém.