CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI : HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VỚI TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NHÀ HÀ NỘI 1.Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, có thể khẳng định hệ thống ngân hàng vừa là xương sống vừa là huyết mạch của toàn bộ nền kinh tế. Chính nhờ sự tồn tại và hoạt động của hệ thống NHTM mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong trong xã hội có thể tập trung lại, chuyển hóa thành vốn để có thể đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, hộ gia đình và cá nhân trong xã hội. NHTM trở thành một định chế tài chính trung gian quan trọng nhất của nền kinh tế. Do vậy, việc đảm bảo sự ổn định, cân bằng và lành mạnh trong hoạt động của hệ thống ngân hàng có ý nghĩa cự kỳ quan trọng, tạo cơ sở cho sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế.
Theo đánh giá của NHNN, hệ thống các TCTD tại Việt Nam, tuy mới hoạt động được khoảng 2 thập kỷ, nhưng đã có những biến đổi cơ bản về lượng (số lượng các TCTD và mạng lưới giao dịch) và chất ( đa dạng về hình thức sở hữu, phong phú về các loại hình dịch vụ ). Tính đến nay, toàn hệ thống có khoảng 52 NHTM, 51 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 31 tổ chức tín dụng phi ngân hàng, 1 quỹ tín dụng nhân dân trung ương, 1.083 quỹ tín dụng cơ sở và một số tổ chức tài chính có quy mô nhỏ.Với một nền kinh tế mà GDP chỉ đạt khoảng 100 tỷ USD/năm như ở Việt Nam, nhiều chuyên gia kinh tế e ngại rằng số lượng các ngân hàng và các TCTD là tương đối nhiều. Trong một thời gian dài, Việt Nam đã phát triển theo nghĩa mở rộng về số lượng mà chưa có sự tập trung cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ, chưa quan tâm tốt đến các vấn đề về rủi ro mà đặc biệt là rủi ro tín dụng. Hệ thống các TCTD còn nhiều bất cập, cần phải được củng cố, kiện toàn thường xuyên; năng lực tài chính, chất lượng của hệ thống quản trị, điều hành còn hạn chế; sản phẩm dịch vụ nghèo nàn, lợi nhuận chủ yếu vẫn là từ hoạt động tín dụng.
Chưa tính đến các rủi ro về thanh khoản, nhiều ngân hàng gọi là “ chạy ăn từng bữa “ khi khả năng huy động vốn không thế đáp ứng được với tốc độ tăng trưởng tín dụng (tăng trưởng tín dụng trung bình trong 3 năm gần đây đạt gần 30%). 2 Trong bối cảnh hiện nay, các TCTD phải đối mặt với không ít những khó khăn, khi mà tình hình kinh tế thế giới diễn ra rất phức tạp, lạm phát tăng cao, khủng hoảng nợ công ở các nước Châu Âu, nguy cơ tái diễn suy thoái kinh tế thế giới còn tiềm ẩn. Trong nước, Chính Phủ và NHNN đang thực hiện chính sách tiền tệ và tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, thúc đẩy sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, giảm chế nhập siêu để kiềm chế lạm phát. Thị trường vốn trong nước diễn biến không ổn định, NHNN quy định trần lãi suất huy động không vượt quá 14%/năm, đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng dưới 20%, tiền gửi tại các ngân hàng liên tục giảm do khách hàng rút ra đề tìm cơ hội đầu tư khác.
Với một số lượng khá lớn các TCTD, tập trung mạng lưới ở khu vực thành thị đã và đang tạo áp lực cạnh tranh gay gắt giữa các TCTD, gây áp lực lợi nhuận, qua đó tạo sức ép buộc các TCTD chấp nhận rủi ro cao, đe dọa an toàn hệ thống. Tỷ lệ nợ xấu trong toàn hệ thống là 3,21 % nhưng các tổ chức nước ngoài đánh giá ít nhất là 10%. Theo con số mà NHNN đưa ra là khoảng 75 nghìn tỷ đồng, chưa kể đến số nợ của một số tập đoàn lớn, nếu hạch toán đầy đủ thì con số này phải trên 100 nghìn tỷ đồng. Tất cả những vấn đề đó đang từng ngày từng giờ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Để ngăn ngừa tổn thất và các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng đặc biệt trong lĩnh vực tín dụng, ngoài các biện pháp thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước, đòi hỏi các NHTM phải có những biện pháp hữu hiệu. Mà biện pháp quan trọng nhất ở đây là phải thiết lập và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hiệu quả. Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh đi cùng là không thể thiếu đối với bất cứ một ngân hàng nào. Đặc biệt, trong lĩnh vực tín dụng, lĩnh vực kinh doanh chủ yếu và đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho ngành ngân hàng đồng nghĩa với đó là lĩnh vực có nguy cơ rủi ro cao.
Một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ đem lại các lợi ích như: Giảm nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong sản xuất kinh doanh; bảo vệ tài sản mất mát bởi hao hụt, gian lận, lừa gạt…; đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính; đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt của tổ chức chức cũng như các quy định của luật pháp; đảm bảo tổ chức hoạt 3 động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra; bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và tạo dựng lòng tin đối với họ. Ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội (Habubank) chính thức thành lập vào ngày 2/01/1989, sau gần 23 năm hoạt động, Habubank đã mở rộng các lĩnh vực kinh doanh, trở thành ngân hàng TMCP đa năng có truyền thống phát triển ổn định, an toàn và hiệu quả, hướng tới mục tiêu trở thành tập đoàn tài chính vững mạnh. Đối với Habubank, vấn đề an toàn trong hoạt động tín dụng luôn được đặt lên hàng đầu. Trong bối cảnh : -Tình hình kinh tế thế giới diễn ra rất phức tạp, lạm phát tăng cao, khủng hoảng nợ công ở các nước Châu Âu, nguy cơ tái diễn suy thoái kinh tế thế giới còn tiềm ẩn.
-Trong nước, Chính Phủ và NHNN đang thực hiện chính sách tiền tệ và tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm chế nhập siêu nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Thị trường vốn trong nước diễn biến không ổn định, tiền gửi tại các ngân hàng liên tục giảm do khách hàng rút ra đề tìm cơ hội đầu tư khác. -Tỷ lệ nợ xấu ở mức độ cao ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn tín dụng của toàn hệ thống ngân hàng -Hệ thống kiểm soát nội bộ tại Habubank luôn được tăng cường nhưng việc phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn các loại rủi ro chưa đạt hiệu quả cao. Việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ là một trong những vấn đề cấp thiết đối với hệ thống Habubank hiện nay Trong bối cảnh đó, đề tài “ Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Nhà Hà Nội” được lựa chọn nghiên cứu làm Luận văn thạc sĩ nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống về hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng nói chung và tại Habubank nói riêng, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ phục vụ cho công tác quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng.
Tổng quan về các công trình đã nghiên cứu liên quan đến đề tài Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4 Nhận thức được vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ trong mối quan hệ với kiểm soát rủi ro tín dụng, những năm gần đây đã có một số đề tài cấp đại học và cấp thạc sĩ nghiên cứu và phân tích về vấn đề này, cụ thể như sau: 1. Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu. Tác giả Nguyễn Đặng Phước Thuận, năm 2006 2. Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Quang Trung.
Tác giả : Phùng Thị Hồng Nhung, năm 2008 3. Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại chi nhánh ngân hàng Nhà nước thành phố Hà Nội. Tác giả Nguyễn Minh Ngọc, năm 2006. Hoàn thiện Hệ thống kiểm soát nội bộ trong kiểm soát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, năm 2009.
Đánh giá chung về các đề tài -Những thành công của các đề tài +Các đề tài nghiên cứu đã làm rõ các vấn đề về lí luận chung về vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ, mối liên hệ giữa hệ thống kiểm soát nội bộ với kiểm soát rủi ro tín dụng trong ngân hàng +Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng ở từng ngân hàng nghiên cứu +Đề xuất các giải pháp hữu ích và có hệ thống về môi trường kiểm soát, thủ tục kiểm soát, chính sách tín dụng, KTNB hay hệ thống thông tin. -Những vấn đề cần bổ sung Mỗi ngân hàng lại có những đặc điểm riêng, đồng thời ở mỗi thời kỳ khác nhau lại có những vấn đề mới về ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng do vậy vấn đề về xây dựng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ phải được cập nhật thường xuyên đáp ứng nhu cầu quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng. Sự khác biệt trong đề tài đã lựa chọn cho luận văn này -Luận văn đi sâu phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp xây dựng và 5 hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong mối quan hệ với tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng tại Habubank dựa trên những ứng dụng của nguyên tắc Basel về quản lý nợ xấu. -Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cho các khách hàng là doanh nghiệp mới thành lập -Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của KTNB để hoạt động có hiệu quả và phù hợp với thực tế hoạt động của Habubank.
Mục tiêu nghiên cứu Xuất phát từ những biến động phức tạp của hệ thống tài chính thế giới nói chung, hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam nói riêng và tỷ lệ nợ xấu trong hoạt động tín dụng tăng cao chưa từng có hiện nay.