Chương 1: ý luận cơ bản kiểm soát nội bộ và vai trò kiểm soát nội bộ đối với rủi ro hoạt động. - Chương 2: Thực trạng Hệ thống kiểm soát nội bộ và ảnh hưởng của Hệ thống kiểm soát nội bộ đến rủi ro hoạt động cho thuê tài chính tại công ty cho thuê tài chính II (ALCII) – Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn. - Chương 3: Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ theo hướng đối phó rủi ro hoạt động cho thuê tài chính tại công ty cho thuê tài chính II – Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯ NG 1:L LUẬN C BẢN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ VAI TRÕ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI RỦI RO HOẠT ĐỘNG.1 Tổng quan về kiểm soát nội bộ theo COSO.1 Báo cáo COSO 1992 định nghĩa: kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu dưới đây: - Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động.
- Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính. - Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định. Trong định nghĩa trên có bốn khái niệm quan trọng cần lưu ý đó là: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. - Kiểm soát nội bộ à một quá trình: tức khẳng định kiểm soát nội bộ không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện rộng khắp trong doanh nghiệp.
Kiển soát nội bộ tỏ ra hữu hiệu nhất khi nó được xây dựng như một phần cơ bản trong hoạt động của doanh nghiệp chứ không phải là một sự bổ sung cho các hoạt động của doanh nghiệp ho c là một gánh n ng bị áp đ t bởi các cơ quan quản lý hay thủ tục hành chính. Kiểm soát nội bộ phải là một bộ phận giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình. - Kiểm soát nội bộ bị chi phối bởi con người trong doanh nghiệp (bao gồm ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên). Con người đ t ra mục tiêu và đưa cơ chế kiểm soát vào vận hành hướng tới các mục tiêu đã định.
Ngược lại, kiểm soát nội bộ c ng tác động đến hành vi của con người. Mỗi cá nhân có một khả năng, suy nghĩ và ưu tiên khác nhau khi làm việc và họ không phải luôn luôn hiểu r nhiệm vụ của mình c ng như trao đổi và hành động một cách nhất quán. Kiểm soát nội bộ sẽ tạo ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân và hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của công ty. 1 Coso 1992, Internal control – Intergrated Framework LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Đảm bảo hợp ý: kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho ban giám đốc và nhà quản lý việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
Điều này là do những hạn chế tiềm tàng trong hệ thống kiểm soát nội bộ như: Sai lầm của con người, sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý và do mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí của việc thiết lập nên hệ thống kiểm soát nội bộ. - Các mục tiêu: mỗi doanh nghiệp phải đ t ra mục tiêu mà mình cần đạt tới (mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong doanh nghiệp). Có thể chia các mục tiêu mà doanh nghiệp thiết lập ra thành 3 nhóm sau đây: Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực. Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: doanh nghiệp phải đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà mình cung cấp.
Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: doanh nghiệp phải tuân thủ các luật lệ và quy định. Các bộ phận hợp thành Hệ thống kiểm soát nội bộ: Theo báo cáo COSO năm 1992 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong một đơn vị được cấu thành bởi năm bộ phận đó là: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Các nội dung chủ yếu và các nhân tố của các bộ phận này được thể hiện ở bảng 1. ảng ác ộ ph n hợp thành hệ thống kiểm soát nội ộ Bộ phận Nội dung chủ yếu Các nhân tố - Tính chính trực và giá trị đạo đức.
Tạo ra sắc thái chung của một - Đảm bảo về năng lực. Môi công ty, chi phối đến ý thức - Hội đồng quản trị và y ban kiểm trường kiểm soát của mọi người trong toán. kiểm soát công ty, là nền tảng cho mọi bộ - Triết lý quản lý và phong cách phận khác của kiểm soát nội bộ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Cơ cấu công ty.
- Phân định quyền hạn và trách nhiệm. - Chính sách về nhân sự. Đơn vị phải nhận biết và đối phó với các rủi ro bằng cách - Xác định mục tiêu của đơn vị. Đánh giá thiết lập mục tiêu của công ty và - Nhận dạng rủi ro.
rủi ro hình thành cơ chế để nhận dạng, - Phân tích và đánh giá rủi ro. phân tích và đánh giá các rủi ro có liên quan. - Phân chia trách nhiệm đầy đủ. Các chính sách và các thủ tục để - Kiểm soát quá trình xử lý thông giúp đảm bảo là những chỉ thị tin.
Hoạt động của nhà quản lý được thực hiện - Kiểm soát vật chất. kiểm soát và có các hành động cần thiết - Kiểm tra độc lập việc thực hiện. đối với các rủi ro nhằm đạt được - Phân tích rà soát hay soát xét lại mục tiêu của đơn vị. việc thực hiện.
Hệ thống thông tin được thiết - Hệ thống thông tin, bao gồm cả hệ lập để mọi thành viên trong đơn thống thông tin kế toán phải đảm Thông tin vị có khả năng nắm bắt và trao bảo chất lượng thông tin. và truyền đổi thông tin cần thiết cho việc - Truyền thông bảo đảm các kênh thông điều hành, quản trị và kiểm soát thông tin bên trong và bên ngoài đều các hoạt động. hoạt động hữu hiệu. Toàn bộ quy trình hoạt động - iám sát thường xuyên: thông qua phải được giám sát và điều việc thu thập thông tin trong nội bộ chỉnh cần thiết.
Hệ thống phải và bên ngoài; đối chiếu số liệu thực iám sát có khả năng phản ứng năng tế và sổ sách,. ho c xem xét các báo động, được thay đổi theo yêu cáo hoạt động để phát hiện các biến cầu của môi trường bên trong và động bất thường. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 bên ngoài. - iám sát định kỳ: thực hiện thông qua các cuộc kiểm tra định kỳ của đơn vị kiểm toán độc lập ho c đơn vị kiểm toán nội bộ.
Các hạn chế của ý thuyết kiểm soát nội bộ: M c dù đã được bổ sung và hoàn thiện trong quá trình phát triển tuy nhiên lý thuyết về kiểm soát nội bộ vẫn còn những hạn chế, đ c biệt trong điều kiện kinh tế hiện nay. Các hạn chế của lý thuyết kiểm soát nội bộ thể hiện ở những m t sau: - Chưa mở rộng tầm nhìn chiến ược: báo cáo COSO năm 1992 không xác định việc xây dựng các mục tiêu của đơn vị nằm trong chu trình kiểm soát nội bộ, vì vậy hệ thống kiểm soát nội bộ được xây dựng chỉ để nhằm mục đích kiểm soát việc thực hiện các mục tiêu đã được xác định chứ không nhằm phục vụ việc quản trị các tình huống không chắc chắn và tối ưu hóa quá trình quản trị đó. M t khác việc xác định các mục tiêu đ c biệt là các mục tiêu chiến lược không nằm trong chu trình kiểm soát c ng làm cho hệ thống kiểm soát nội bộ bị hạn chế về tính dự báo đối với các loại rủi ro và vì vậy không xây dựng được chiến lược dài hạn để đối phó. - Chưa áp dụng các phương pháp k thuật để quản trị rủi ro: báo cáo COSO 1992 cung cấp khá nhiều các phương pháp, k thuật cho kiểm soát nội bộ.
Tuy nhiên các k thuật này mới chỉ dừng lại ở mức độ kiểm soát chứ chưa đáp ứng được yêu cầu về đánh giá và quản trị các rủi ro liên quan đến đơn vị. - Chưa thể hiện vai tr của người quản ý cao cấp và trách nhiệm của họ đối với rủi ro: hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên nhằm đảm bảo hợp lý việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Do vậy lý thuyết kiểm soát nội bộ chỉ giới hạn trách nhiệm của người quản lý trong các hoạt động của đơn vị chưa thể hiện trách nhiệm liên quan đến việc kiểm soát các rủi ro tiềm n. Vì vậy sau khi báo cáo COSO năm 1992 ra đời thì lý thuyết kiểm soát nội bộ tiếp tục phát triển theo nhiều hướng khác nhau và theo hướng tích hợp với việc quản trị rủi ro tại đơn vị.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mùa thu năm 2001 COSO đề xuất một nghiên cứu nhằm đưa ra một lý thuyết để giúp các tổ chức quản trị các rủi ro liên quan đến quá trình hoạt động. M c dù đã tồn tại nhiều lý thuyết về quản trị rủi ro nhưng COSO vẫn khẳng định rằng cần thiết phải có một cách tiếp cận mới về rủi ro và phải xây dựng một khuôn mẫu lý thuyết c ng như các k thuật tương đương để các đơn vị có thể áp dụng phù hợp với điều kiện của mình. Công ty kiểm toán Price Waterhouse Cooper được chọn tham gia vào dự án này, đến tháng 10 năm 2004 dự án được hoàn thành và COSO công bố dưới tiêu đề: Quản trị rủi ro doanh nghiệp – Khuôn khổ hợp nhất.