phần mở đầu và kết luận, luận văn nghiên cứu trình bày bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác thẩm định tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP. Chƣơng 2: Thực trạng công tác thẩm định tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam chi nhánh Đăk Lăk. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam chi nhánh Đăk Lăk. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng là sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp, các doanh nghiệp phát triển cũng có nghĩa là nền kinh tế phát triển.Tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn tối ƣu mà các doanh nghiệp có thể khai thác để có thể đứng vững trên thƣơng trƣờng.
Nhƣ vậy, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy mạnh mẽ th c đẩy sự tăng trƣởng kinh tế và góp phần điều hành nền kinh tế thị trƣờng. Tín dụng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và nó cũng quyết định đến sự phát triển hay thất bại của một NHTM. Trong đó, quy mô tín dụng chủ yếu tập trung vào nguồn dƣ nợ cho vay ngắn hạn (chiếm tỷ trọng 70% trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam) vừa mang lại lợi nhuận lớn vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro. Mặc dù, vấn đề hoàn thiện chất lƣợng tín dụng đối với các doanh nghiệp khá cấp thiết đƣợc ban lãnh đạo quan tâm đặc biệt.
8 Nhƣng hiện nay, công tác này đang có rất nhiều bất cập. Đã có rất nhiều nghiên cứu đƣợc thực hiện trƣớc đây nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong cho vay ngắn hạn doanh nghiệp để áp dụng cho các NHTM tại Việt Nam. Tuy nhiên, một số đề tài luận văn thạc sĩ vẫn còn tồn tại nhiều lỗ hổng nghiên cứu. Để đánh giá chính xác những kết quả đạt đƣợc trong những năm qua về công tác thẩm định tín dụng trong cho vay ngắn hạn doanh nghiệp tại các NHTM, tác giả tập trung một số luận văn gần đây nhất: Thứ nhất là luận văn của chị Nguyễn Thị Hướng (2013) sử dụng cách tiếp cận duy vật biện chứng, phân tích hệ thống, phƣơng pháp quy nạp và diễn dịch.
Tác giả sử dụng các phƣơng pháp thống kê nhƣ: Điều tra, tổng hợp dữ liệu, phân tích so sánh, đối chiếu, vừa kết hợp hệ thống hóa khái quát về cơ sở lý luận, quy trình và nội dung thẩm định cho vay ngắn hạn doanh nghiệp tại các NHTM vừa thực hiện so sánh, diễn giải, phân tích để đánh giá thực trạng công tác thẩm định tín dụng ngắn hạn tại đơn vị ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Chi nhánh Hải Châu qua 3 năm 2010-2012. Tác giả cho thấy, nguyên nhân chính của tình hình nợ xấu chi nhánh tăng cao, thu nhập giảm trong khi chi phí dự phòng rủi ro trong giai đoạn năm 2012 lớn chủ yếu do còn tồn tại rất nhiều bất cập trong công tác thẩm định cho vay ngắn hạn cũng nhƣ quy trình hiện hành tại chi nhánh, cụ thể: Bộ phận thẩm định đƣợc thành lập từ những cá nhân thuộc phòng kinh doanh, việc tách biệt giữa hai bộ phận còn chƣa rõ ràng, CBTD kiêm quá nhiều việc, thẩm định rủi ro phƣơng án kinh doanh chƣa đƣợc ch trọng, TSBĐ là bất động sản thì còn nhiều trƣờng hợp chỉ đăng ký giao dịch bảo đảm mà không công chứng tài sản…. Thứ hai là luận văn của chị Nguyễn Thị Mộng Diệp (2013) cũng tƣơng tự cách tiếp cận của nghiên cứu trên. Tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều 9 phƣơng pháp nhƣ: phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp mô tả, phƣơng pháp diễn giải, phân tích,.
để nhận định đƣợc hạn chế của chi nhánh thực hiện nghiên cứu còn rất nhiều lỗ hổng trong quy trình thẩm định tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp. Cụ thể, chi nhánh để rõ lỗ hổng trong việc thiếu kiểm soát kĩ công tác thẩm định, đào tạo nhân sự, công tác tổ chức quản lý không đƣợc quan tâm, thiếu công cụ hệ thống hỗ trợ đắc lực cho công tác thẩm định tín dụng trong cho vay ngắn hạn doanh nghiệp, kết quả đã ảnh hƣởng không nhỏ đến tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Đà Nẵng. Mặc dù, tại thời điểm này, đã có sự thành lập giữa bộ phận thẩm định và bộ phận tín dụng khách hàng nhƣng thẩm quyền quyết định của CBTD còn lớn chƣa có quy định rõ ràng chức năng & nhiệm vụ giữa bộ phận thẩm định và cán bộ tín dụng khách hàng, hồ sơ còn dựa trên việc thẩm định chéo giữa các cán bộ. Hoạt động kinh doanh chi nhánh có phần giảm s t, cụ thể nhƣ: Thời gian xử lý hồ sơ vay tăng, số lƣợng khách hàng vay giảm mạnh, nợ xấu cao so với khu vực,….
Không những thế, khẩu vị ban lãnh đạo còn tập trung vào các doanh nghiệp có vốn nhà nƣớc, chi nhánh bỏ qua những PAV hiệu quả không có vốn nhà nƣớc, công tác thẩm định cho vay ngắn hạn đối với KHDN từ năm 2010-2012 chƣa đạt hiệu quả tăng trƣởng so với hoạt động tín dụng của chi nhánh ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Đà Nẵng. Thứ ba, cũng trong cùng một hệ thống ngân hàng Nông Nghiệp và cùng nghiên cứu trong vòng năm 2013, luận văn của Huỳnh Thị Thu Sinh nghiên cứu tại Đại Học Đà Nẵng một lần nữa đã kế thừa kết quả nghiên cứu của hai nghiên cứu trên để tìm ra những điểm cần khắc phục trong công tác thẩm định tín dụng ngắn hạn đối với khách hàng doanh nghiệp. Tác giả đã linh động sử dụng tổng hợp các phƣơng pháp phân tích, thống kê, để khái quát phần lớn đƣợc các nhƣợc điểm của hầu hết các ngân hàng TMCP trên địa 10 bàn hoạt động đặc biệt đối với ngân hàng đang nghiên cứu. Thứ nhất, công tác thẩm định cho vay vẫn có sự chồng chéo chƣa có sự phân công rõ ràng theo hƣớng chuyên môn hóa đối với từng cán bộ tín dụng.
Thứ hai, chƣa có hệ thống các chỉ tiêu ngành làm chuẩn và chƣa có sự so sánh tƣơng quan ngành. Thứ ba, chƣa có quy trình cụ thể và nội dung thẩm định còn sơ sài. Thứ tƣ, mức độ đánh giá rủi ro có thể xảy ra còn thấp, qua loa, lấy lệ, chƣa khoa học. Đặc biệt, đặc thù tại chi nhánh ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Quảng Nam có hệ thống thông tin thiếu, kênh cung cấp số liệu hạn chế, cán bộ chƣa biết khai thác nguồn tin bên ngoài,….
Tất cả những điều đó làm giảm tính chính xác và tăng chi phí thẩm định cho vay khách hàng doanh nghiệp, tăng nợ xấu, nợ xử lý rủi ro, nợ nhóm 2,…. Thứ tƣ nhằm hoàn thiện hơn và khắc phục hạn chế trong quy trình thẩm định của các nghiên cứu trên, Phạm Văn Mão (2014) thực hiện nghiên cứu tại một ngân hàng khác là ngân hàng TMCP Công thƣơng đã có nhiều hƣớng đi tích cực. Tác giả cũng sử dụng một số phƣơng pháp tƣơng tự luận văn trƣớc nhƣ: Phƣơng pháp lịch sử, so sánh, mô tả, diễn giải, phân tích sâu,…kết hợp lý luận thực tiễn, văn bản pháp luật mới của nhà nƣớc liên quan đến doanh nghiệp, tín dụng, các công trình khoa học, báo cáo của Vietinbank để đánh giá chính xác nhất thực trạng công tác thẩm định tín dụng trong cho vay ngắn hạn tại chi nhánh Vietinbank Quảng Bình. Điểm mới trong quy trình thẩm định tín dụng trong cho vay ngắn hạn doanh nghiệp: sau khi phê duyệt khoản vay, ngân hàng chủ động liên hệ các TCTD khác tham gia đồng tài trợ nhằm chia sẻ rủi ro cho chi nhánh.
Bên cạnh đó, tác giả còn nhấn mạnh đến việc đào tạo cán bộ, tập trung hơn đến phƣơng án SXKD, vay vốn của khách hàng so với trƣớc đây, cơ cấu lại dƣ nợ và chính sách cho từng đối tƣợng khách hàng theo đặc thù địa bàn hoạt động. Thêm nữa, Vietinbank Quảng Bình rất ch trọng vào phát triển nhóm KHDN, đặc biệt là cho vay ngắn hạn 11 trong chiến lƣợc tăng trƣởng của chi nhánh, duy trì khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng ngân hàng tại địa bàn tỉnh Quảng Bình. Tuy nhiên, chi nhánh vẫn còn tồn tại nhiều bất cập trong công tác thẩm định tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp, đặc biệt bất cập chủ yếu tập trung trong quy trình nội bộ ngân hàng Vietinbank Quảng Bình: chƣa có một bộ phận thẩm định đƣợc đào tạo bài bản riêng biệt nhằm nâng cao tính chuyên môn trong công tác hồ sơ, lơi lỏng trong kiểm soát nội bộ; nguồn nhân lực chƣa thực sự đáp ứng yêu cầu của vị trí công việc, chuyên môn còn nhiều yếu kém, chính sách chƣa giữ chân đƣợc nhân tài; chi nhánh quá tập trung vào quy trình mà chƣa ch trọng yếu tố môi trƣờng bên ngoài, Vietinbank Quảng Bình đã chƣa để ý đến sự phối hợp của cơ quan, ban ngành địa phƣơng cũng nhƣ đối tác của khách hàng để khai thác thông tin khách hàng từ nhiều phƣơng diện dẫn đến tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức cao, trong năm 2012, 2013 thì tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp lên cao nhất trong các năm hoạt động. Thứ năm: gần đây nhất là luận văn Nguyễn Thị Hạnh Lê (2015) đã dựa trên những kết quả nghiên cứu để tìm ra hƣớng đi mới cho luận văn, nhằm khắc phục đƣợc một số các hạn chế còn tồn tại từ hai năm 2013-2014 nghiên cứu trƣớc đó, đƣa ra giải pháp khá thiết thực để nhằm hỗ trợ hoàn thiện công tác thẩm định cho vay ngắn hạn doanh nghiệp trên địa bàn Đà Nẵng.
Tác giả tiếp tục sử dụng dữ liệu lịch sử, phƣơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đối chiếu dữ liệu, đánh giá khá kỹ càng từng bƣớc trong quy trình thẩm định trƣớc khi cho vay khách hàng. Không những thế, tác giả còn nhìn nhận rất rõ lợi thế, điểm mạnh điểm yếu của chi nhánh để đƣa ra giải pháp thiết thực phục vụ cho công tác thẩm định tín dụng trong cho vay ngắn hạn doanh nghiệp tại ngân hàng Nông Nghiệp Quận Liên Chiểu – Thành Phố Đà Nẵng.