MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, Ðảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách quan tâm đến nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là tập trung mọi nguồn lực cho công cuộc xây dựng nông thôn mới, đầu tư xây dựng hệ thống công trình Thuỷ lợi; cải tạo, nâng cấp máy móc, thiết bị hiện đại, nhằm từng bước đáp ứng được yêu cầu cho phục vụ tưới, tiêu cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh kinh tế xã hội trong cả nước. Tuy nhiên, để duy trì và phát huy hiệu quả của công trình, máy móc, thiết bị thì công tác bảo trì (duy tu, duy trì) phải được đặc biệt quan tâm, chú trọng. Ngày nay, các nước tiên tiến trên thế giới đều cho rằng công tác bảo trì CTXD, máy móc, thiết bị phải được thiết lập trên cơ sở đảm bảo chất lượng dài hạn thông qua các biện pháp kỹ thuật nhằm đảm bảo và duy trì sự làm việc bình thường, an toàn của công trình.
Bảo trì công trình xây dựng là tập hợp các công việc cần thiết nhằm mục đích đảm bảo và duy trì sự làm việc bình thường, an toàn đưa công trình khôi phục lại các tính năng như thiết kế ban đầu trong quá trình khai thác, sử dụng. Sau một thời gian làm việc công trình không còn đảm bảo tính năng, công suất làm việc như lúc ban đầu hoặc do thời gian làm việc quá lâu khiến cho công trình xuống cấp, cũng có thể do sự cố bất thường làm công trình dừng hẳn khi đó phải tiến hành bảo trì sửa chữa. Như vậy quản lý bảo trì nhằm mục đích: Tính sẵn sàng làm việc tối đa của công trình, máy móc, thiết bị đảm bảo luôn ở tình trạng tốt khi có yêu cầu sản xuất. Đảm bảo công trình, máy móc, thiết bị ở tình trạng tốt nhất (tức là phải có khả năng duy trì công suất, năng suất và chất lượng cao nhất).
Đảm bảo an toàn lao động, giảm thiểu tai nạn. Đảm bảo chống ô nhiễm môi trường, công trình thiếu bảo trì có thể gây hỏng hóc, ô nhiễm (nhiệt độ, tiếng ồn, chất thải và tiêu tốn năng lượng). Ðể góp phần vào việc nghiên cứu nhằm đáp ứng yêu cầu vừa thiết thực, vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài đối với vấn đề nâng cao năng lực QLKT, bảo trì các công trình thuỷ lợi hiện có trên địa bàn Thành phố nói chung và tại hệ thống công trình trạm bơm Đan Hoài thuộc Công ty Ðầu tư phát triển Thuỷ lợi Sông Ðáy nói riêng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết. Xuất phát từ tính cấp thiết của vấn đề 1 nêu trên, tác giả đã lựa chọn Đề tài “Hoàn thiện công tác bảo trì hệ thống công trình trạm bơm Đan Hoài”.
Mục đích nghiên cứu Đánh giá được thực trạng công tác bảo trì hệ thống công trình trạm bơm và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác bảo trì hệ thống công trình trạm bơm Đan Hoài. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Công tác bảo trì hệ thống công trình trạm bơm Đan Hoài, Xí nghiệp ĐTPT Thuỷ lợi Đan Hoài thuộc Công ty ÐTPT Thuỷ lợi Sông Ðáy 3. Phạm vi nghiên cứu Trạm bơm, kênh và các công trình thuộc hệ thống trạm bơm Đan Hoài, Xí nghiệp ĐTPT Thuỷ lợi Đan Hoài thuộc Công ty ÐTPT Thuỷ lợi Sông Ðáy giai đoạn 2016- 2021; 5.
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 5. Cách tiếp cận Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả luận văn đã dựa trên cách tiếp cận cơ sở lý luận về công tác bảo trì các công trình thuỷ lợi, những quy định hiện hành của hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực này kết hợp tiếp cận thực tiễn tại Công ty và công trình trạm bơm Đan Hoài Công ty đang quản lý. Phương pháp nghiên cứu * Phương pháp điều tra, thu thập, phân tích các tài liệu có liên quan đến công tác quản lý, khai thác hệ thống công trình trạm bơm Đan Hoài giai đoạn 2016-2021 * Phương pháp chuyên gia: Tham khảo và xin ý kiến của Thầy giáo hướng dẫn, các chuyên gia, lãnh đạo Công ty và những người có kinh nghiệm trong công tác nhằm đánh giá và đưa ra các giải pháp phù hợp nhất để hoàn thiện công tác bảo trì hệ thống công trình trạm bơm Đan Hoài giai đoạn 2022-2025. Ý nghĩa khoa học,thực tiễn của đề tài * Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở khoa học về công tác bảo trì hệ thống công trình trạm bơm đối với các đơn vị quản lý, sử dụng và khai thác vận hành.
* Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tài liệu tham khảo để áp dụng cho công tác bảo trì hệ thống công trình trạm bơm Đan Hoài trong những năm tiếp theo. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1. Khái quát chung về công tác bảo trì công trình thủy lợi Công trình thủy lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ quản lý, khai thác thủy lợi. Để phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp, các công trình thủy lợi đóng vai trò rất quan trọng và mang tính chiến lược, bởi hệ thống thủy lợi thông suốt sẽ đảm bảo việc tưới tiêu cho cây trồng, vật nuôi; đồng thời giúp cho việc vận chuyển sản phẩm sau thu hoạch được dễ dàng hơn, giảm chi phí vận chuyển, nâng cao giá thành sản phẩm, góp phần tăng thu nhập cho nông dân.
Ngay sau chiến tranh, nhiều công trường thủy lợi được mở ra đã xây dựng hàng trăm hồ chứa nước và tu sửa hàng trăm km hệ thống đê điều. Các công trình đó đã kịp thời phục vụ sản xuất, chống lũ, góp phần tích cực phục vụ mục tiêu chi viện cho chiến trường với khẩu hiệu "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Trong khói lửa chiến tranh và trong công cuộc xây dựng CNXH, đội ngũ cán bộ kỹ thuật thủy lợi được đào tạo và trưởng thành đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, hoàn thành mọi nhiệm vụ giao. Trong điều kiện biến đổi khí hậu, xu thế lũ lụt, hạn hán ngày càng gia tăng khốc liệt hơn thì nhiệm vụ của những công trình thủy lợi càng nặng nề hơn.
Theo đó, mục tiêu đề ra năm 2020 của ngành Nông nghiệp đó là mỗi năm các công trình thủy lợi phục vụ tốt công tác tưới tiêu cho lúa, màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho 90% dân số nông thôn, cấp nước nuôi trồng thủy sản, cấp và tiêu thoát nước cho đô thị và khu công nghiệp. Để đạt được mục tiêu này, ngành Nông nghiệp cũng đã đề ra một số giải pháp tích cực như: Tiếp tục tu sửa, nâng cấp hiện đại hóa các hệ thống công trình thủy lợi lớn, đảm bảo an toàn hồ đập, kiên cố hóa hệ thống kênh mương, các cống đầu cửa sông, cửa kênh, hệ thống tiêu thoát lũ, mở rộng đối tượng phục vụ và an toàn trong lũ lụt, thiên tai; Nâng cấp hệ thống đê điều, hệ thống cảnh báo và công trình phòng, chống bão lụt, nhất là hệ thống đê sông, đê biển, đê nội đồng và kè chống sạt lở đi đôi với việc bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn. 4 Căn cứ Luật Thủy lợi 2017 [1] thì việc quản lý công trình thủy lợi bao gồm các công tác: Quản lý nước, Quản lý công trình, Quản lý kinh tế. Quản lý nước bao gồm các nội dung: • Công tác thu thập các thông tin dự báo khí tượng, thủy văn; hoặc công tác đo đạc, quan trắc khí tượng thủy văn chuyên dùng trên lưu vực; bao gồm cả công tác quan trắc, dự báo, cảnh báo lũ, ngập lụt, úng, hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, số lượng, chất lượng nước; kiểm kê nguồn nước trong hệ thống công trình thủy lợi, phân tích nhu cầu sử dụng nước.
• Thực hiện lập và tổ chức thực hiện kế hoạch tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, tưới, tiêu, thoát nước, sử dụng nước, kiểm soát chất lượng nước, xâm nhập mặn, thực hiện phương án ứng phó thiên tai. • Thực hiện công tác bảo vệ môi trường, chất lượng nước trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi; kiểm tra, kiểm soát việc xả chất thải, nước thải vào công trình thủy lợi; • Thực hiện công việc lập, lưu trữ hồ sơ kỹ thuật về quản lý, phân phối nước trong hệ thống công trình thủy lợi. Quản lý công trình bao gồm các nội dung: • Công tác đo đạc, quan trắc, giám sát, kiểm tra, kiểm định, đánh giá an toàn công trình thủy lợi; • Công tác quản lý, tổ chức thực hiện bảo trì, đầu tư nâng cấp, xây dựng mới, hiện đại hóa, xử lý khắc phục sự cố công trình, máy móc, thiết bị; cắm mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi; • Thực hiện trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án ứng phó thiên tai và phương án bảo vệ công trình thủy lợi; • Thực hiện lập, lưu trữ hồ sơ kỹ thuật về quản lý công trình thủy lợi. Quản lý kinh tế bao gồm các nội dung: 5 • Công tác tổ chức lập, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, áp dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật phục vụ quản lý, khai thác công trình thủy lợi; • Công tác tổ chức xây dựng và thực hiện kế hoạch cung cấp sản phẩm, dịch vụ thủy lợi; • Công tác ký kết, nghiệm thu, thanh lý hợp đồng cung cấp, sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi; • Thực hiện xây dựng mô hình tổ chức hợp lý để quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi và các nguồn lực được giao; • Tổ chức định kỳ đánh giá hiệu quả quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch khai thác tổng hợp, mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ để phát huy năng lực công trình thủy lợi; • Thực hiện lập, lưu trữ hồ sơ về quản lý tài sản, tài chính.
Như vậy, việc bảo trì hệ thống công trình nằm trong nội dung công tác quản lý công trình thủy lợi và được quy định là một công tác phải thực hiện trong suốt quá trình quản lý, vận hành khai thác công trình thủy lợi.