đặt vấn đề và giải quyết vấn đề bảo hiểm tiền gửi như là một cơ chế đủ tốt để bảo vệ quyên lợi cho người gửi tiền, cũng như gián tiếp bảo vệ sự an toàn cho các tô chức tín dụng và từ đó bảo đảm sự an toàn cho hệ thống tín dụng trong nền kinh tế quốc gia. Xuất phát từ quan điểm tiếp cận như vậy, các quốc gia có xu hướng lựa chọn mô hình tổ chức BHTG như là một tô chức được thành lập bởi Ngân hàng Trung ương để hỗ trợ cho cơ quan này trong việc thực hiện chức năng giám sát và đảm bảo an toàn đối với hệ thống ngân hàng, hoặc có thê lựa chọn mô hình như là tô chức tư nhân được Chính phủ cho phép thành lập và ủng hộ một phần tài chính; hoặc là mô hình tô chức tư nhân hoàn toàn được Chính phủ cho phép tiếp nhận đóng góp tài chính từ tổ chức tham gia BHTG theo quy định tại quốc gia đó đề thực hiện chức năng bảo hiểm tiền gửi. Tại Việt Nam, nhà làm luật đã đưa ra định nghĩa về tô chức BHTG trong Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 ngày 18/6/2012 như sau: Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ôn định của hệ thống các tô chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng [9, Điều 4, Khoản 4]. Từ các luận điểm nêu trên, có thể cho rằng tổ chức BHTG có một số đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, về phương diện chức năng, nhiệm vụ: Tổ chức BHTG là thiết chế đặc biệt được thành lập và hoạt động vì mục tiêu sứ mệnh cao cả là bảo vệ quyền lợi người gửi tiền nói chung, người gửi tiền nhỏ nói riêng (do bị hạn chế về mặt tiếp cận thông tin đối với hoạt động của các tô chức nhận tiền gui) và bảo đảm an toàn cho hệ thống tín dụng trong nên kinh tế, ngăn chặn sự đồ vỡ của TCTTD thông qua các hoạt động nghiệp vụ BHTG.
Điều này thể hiện ở chỗ: (¡) BHTG giúp tạo tâm lý an tâm cho người gửi tiền khi tham gia vào hoạt động gửi tiền tại các TCTD mới thành lập hoặc có quy mô nhỏ, từ đó góp phần phát triển hoạt động của TCTD; (¡¡) BHTG góp phần giúp các TCTD yếu kém thông qua các hoạt động tiếp nhận xử lý; (ii) BHTG góp phần giúp các TCTD tự nâng cao ý thức trong việc chấp hành các quy định pháp luật về đảm bảo an toàn trong hoạt động bằng cách thực hiện việc kiểm tra, giám sát từ đó phát hiện kịp thời các vi phạm để cảnh báo TCTD có biện pháp khắc phục chỉnh sửa nâng cao hiệu quả hoạt động. Thứ hai, về khía cạnh bản chất: Tổ chức BHTG là chủ thể hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.Điều này thể hiện ở chỗ, mọi hoạt động của tô chức BHTG đều không hướng đến mục tiêu thu lợi nhuận cho mình, mặc dù trên thực tế một số hoạt động của tổ chức này có thé phat sinh loi nhuan. Viéc quy định tổ chức BHTG hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận sẽ cho phép tổ chức này toàn tâm, toàn ý với sứ mệnh phục vụ xã hội, phục vụ cộng đồng thông qua việc thực hiện chức năng bảo hiểm cho các khoản tiền gửi của người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng. Với bản chất như vậy, hoạt động của tổ chức BHTG sẽ góp phần làm giảm gánh nặng ngân sách cho Chính phủ trong tình huống giải quyết, xử lý các TCTD bị đồ vỡ.
Trong trường hợp này, BHTG sẽ chi trả một phần khoản tiền gửi của khách hàng gửi tiền tại các TCTD, vì thế Nhà nước sẽ không phải sử dụng ngân sách đề xử lý đỗ vỡ của các TCTTD trong quá trình hoạt động. Thứ ba, về khía cạnh mô hình tô chức và hoạt động: Mặc dù trên thực tế tổ chức BHTG ở mỗi quốc gia sẽ được thành lập tùy thuộc mức độ phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng, tình hình kinh tế, chính trị của quốc gia đó nhưng thực tế cho thấy tổ chức BHTG thường được tô chức và hoạt động theo một trong ba mô hình sau: (i) M6 hinh chi tra (pay box): Ở mô hình này, tổ chức BHTG chỉ thực hiện chức năng chủ yếu là chỉ trả tiền gửi được bảo hiểm trong hạn mức theo quy định cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị đồ vỡ. (1) Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng (pay — box with extened powers): Ở mô hình này, ngoài chức năng chi trả tiền bảo hiểm, tổ chức BHTG còn được trao thêm một số quyền hạn mở rộng như: hỗ trợ tài chính 10 cho tô chức tham gia BHTG gặp khó khăn; theo dõi, khuyến nghị sự cân trọng và phòng tránh rủi ro đối với các tổ chức tham gia BHTG; tham gia xử lý nợ, thu hồi nợ của tổ chức tham gia BHTG bị phá sản. Qua việc thực hiện các quyền hạn mở rộng này, tổ chức BHTG góp phần làm tăng thêm các mục tiêu cần đạt được của chính sách công như hạn chế rủi ro, tránh đỗ vỡ hệ thống hoặc khủng hoảng tài chính, gia tăng niềm tin của công chúng vào hê thống tài chính, tín dụng và các cơ quan của Chinh phủ.
(11) Mô hình giảm thiểu rủi ro (risk minimizer):Mô hình này được đánh giá là phản ánh một cách đầy đủ nhất bản chất của bảo hiểm là luôn gắn với rủi ro. Vì thế một tô chức BHTG được coi là hiệu quả phải có các quyền hạn và chức năng tương ứng cho phép tổ chức này hạn chế đến mức tối đa rủi ro của quốc gia, của từng ngành dịch vụ tài chính và người gửi tiền, tức là phải giảm đến mức thấp nhất những tổn thất xã hội trong quản trị rủi ro. Cụ thể, tổ chức BHTG giảm thiểu rủi ro có thê can thiệp vào mọi thời điểm, mọi giai đoạn trong vòng đời của tổ chức tham gia BHTG kể từ lúc được hình thành, cấp phép và đi vào hoạt động đến từng giai đoạn phát triển của tô chức này đều có vai trò đo lường, kiểm soát và ngăn chặn rủi ro của tổ chức BHTG. Thậm chí, nếu tổ chức tham gia BHTG suy yếu đến mức buộc phải giải thể hoặc phá sản thì vai trò của BHTG lúc này không chỉ là thay mặt Chính phủ đứng ra chỉ trả mà còn băng các biện pháp xử lý khác giúp tô chức tín dụng rút khỏi thị trường một cách có trật tự, tránh lây lan, ảnh hưởng xấu tới sự an toàn của thị trường tài chính và nền kinh tế.
Tất cả điều đó có nghĩa là, ở mô hình này, tô chức BHTG được thực hiện nhiều chức năng khác ngoài chức năng chi trả như: chức năng thanh tra, giám sát và đánh giá mức độ rủi ro của các tô chức tham gia BHTG; chức năng tham gia xử lý các tổ chức các quyền về can thiệp sớm và xử lý. Trong một số trường hợp có cả chức năng giám sát an toàn. 11 Có thể thấy, mô hình tổ chức BHTG giảm thiểu rủi ro cho phép tô chức BHTG quản lý rủi ro một cách toàn diện nhất, đảm bảo hoạt động an toàn, lành mạnh của tô chức tham gia BHTG cũng như đảm bảo thực hiện đầy đủ và tốt nhất mục tiêu chính sách công đối với hoạt động bảo hiểm tiền gửi.1: Mục tiêu chính sách công của các mô hình tổ chức BHTG [16] Mô hình chỉ Mô hình trả x +A F. A sẽ ek ra quyen Mục tiêu chính sách công giảm thiêu 1 ye oe hạn mở rủi ro rộng Bảo vệ người gửi tiền nhỏ thông qua việc K ALA: x v v cung câp cơ chê bôi thường Khuyến khích người gửi tiền ít hiểu biết về tài chính giám sát ngân hàng và thực v v hiện các nguyên tắc thị trường Giảm gánh nặng cho Chính phủ và yêu cầu các ngân hàng tốt đóng góp chi phí v v trong quá trình xử lý ngân hàng Thúc đây cạnh tranh trong khu vực tài chính Tạo ra một cơ chế chính thức trong việc nie a R o m A Đà v v xử lý đô vỡ ngân hàng Khuyến khích tiết kiệm và thúc đây tăng trưởng tài chính kinh tế ly | P[PssmmemJự | —Ƒ— l9.
Góp phần vào hệ thống thanh toán có trật tựPw fo fF Giảm thiểu tác động của suy thoái kinh tế TW fF 12 1. Khái quát về TCTD là tổ chức tham gia bảo hiểm tiên gửi Trong nên kinh tế thị trường, các TCTD đóng vai trò là cầu nối giữa nhu cầu vay vốn của tổ chức, cá nhân với nhu cầu cho vay của những người có tiền nhàn rỗi (người gửi tiền). Chính vì vậy, nếu người gửi tiền không cảm thay độ an toàn của việc gui tiền thì chắc chắn họ sẽ không mặn mà với việc gửi tiền vào TCTD. Điều này cho thấy ý nghĩa, tác dụng to lớn của cơ chế BHTG đối với việc thúc đầy dòng tiền trong nền kinh tế, thông qua việc thiết lập quan hệ bảo hiểm tiền gửi giữa Tổ chức BHTG với các tổ chức tham gia BHTG.
Theo quan điểm của Hiệp hội BHTG quốc tế([ADI): Tổ chức tham gia BHTG là các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi. Như vậy, bất cứ tổ chức nào có hoạt động nhận tiền gửi thì đều có thể là tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi. Thông lệ quốc tế hiện nay cho thấy trên thế giới có hai xu hướng tham gia BHTG là bắt buộc tham gia hoặc tự nguyện tham gia. Điều này phụ thuộc vào chính sách tài chính — ngân hàng của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, thực tế ở các nước cho thấy xu hướng phô biến là tham gia BHTG bắt buộc. Khi tham gia BHTG, các tổ chức này có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG và được quyền yêu cầu tổ chức BHTG chỉ trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức đó trong trường hợp tổ chức này bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan có thâm quyền chấm dứt hoạt động. Ở Việt Nam, nhà làm luật đã ghi nhận rằng “tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo Luật các tô chức tín dụng được nhận tiền gửi Axn¬*>? của cá nhân” [9, Điều 4, Khoản 3].